So Sánh Bản Dịch(Tối đa 6 bản dịch)


Nau Brah Ndu Ngơi(BBSV)

Bản Truyền Thống 1926(VI1934)

Bản Hiệu Đính Truyền Thống(RVV11)

Bản Dịch 2011(BD2011)

Bản Dịch Mới(NVB)

Bản Phổ Thông(BPT)

Nau Brah Ndu Ngơi (BBSV)

1Y-Môis plơ̆ lah: "Ƀiălah aơ, khân păng mâu mra chroh ma gâp ôh, mâu lĕ khân păng iăt nau gâp, yorlah khân păng mra lah: 'Yêhôva mâu mâp tâm mpơl ma may ôh."

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

1Môi-se thưa rằng: Nhưng dân đó sẽ chẳng tin và chẳng vâng lời tôi, vì sẽ nói rằng: Đức Giê-hô-va chẳng có hiện ra cùng ngươi đâu.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

1Môi-se thưa rằng: “Nhưng họ sẽ không tin và không nghe lời con, vì họ sẽ nói: ‘Đức Giê-hô-va nào có hiện ra với ông đâu.’”

Bản Dịch 2011 (BD2011)

1 Bấy giờ Mô-sê thưa, “Nhưng nếu dân ấy không tin con và không nghe lời con, mà còn nói, ‘CHÚA không hề hiện ra với ông,’ thì con phải làm sao?”

Bản Dịch Mới (NVB)

1Nhưng Môi-se thưa Lại: “Nếu họ không tin, cũng không chịu nghe con mà lại nói rằng: ‘CHÚA đâu có hiện ra với ông’ thì sao?”

Bản Phổ Thông (BPT)

1Sau đó Mô-se thưa, “Nếu dân Ít-ra-en không tin hay không nghe con thì sao? Nếu họ bảo, ‘CHÚA chẳng có hiện ra cùng ông đâu’ thì con làm thế nào?”

Nau Brah Ndu Ngơi (BBSV)

2Yêhôva lah ma păng: "Moh may geh tâm ti may?" păng lah: "Du mlâm mâng".

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

2Đức Giê-hô-va phán rằng: Trong tay ngươi cầm vật chi? Thưa rằng: Một cây gậy.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

2Đức Giê-hô-va hỏi: “Con đang cầm vật gì trong tay?” Môi-se thưa: “Một cây gậy.”

Bản Dịch 2011 (BD2011)

2CHÚA phán với ông, “Ngươi đang cầm gì trong tay?”Ông đáp, “Thưa, một cây gậy”

Bản Dịch Mới (NVB)

2CHÚA hỏi Môi-se: “Con đang cầm cái gì trong tay?” Môi-se thưa: “Một cây gậy.”

Bản Phổ Thông (BPT)

2CHÚA bảo ông, “Trong tay con hiện đang cầm vật gì?”Mô-se thưa, “Con đang cầm cây gậy chăn chiên.”

Nau Brah Ndu Ngơi (BBSV)

3Yêhôva lah: "Mƀăr lơi mâng ta neh." Pô ri păng mƀăr mâng ta neh, jêh ri mâng nây nkhơng ma jêng du mlâm bêh. Y-Môis du ta năp păng.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

3Phán rằng: Hãy ném xuống đất đi. Người bèn ném xuống đất, gậy hóa ra một con rắn; Môi-se chạy trốn nó.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

3Chúa phán: “Hãy ném nó xuống đất đi”. Ông ném gậy xuống đất và cây gậy biến thành một con rắn. Môi-se chạy trốn con rắn.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

3 Ngài phán, “Hãy quăng nó xuống đất.” Ông quăng cây gậy xuống đất. Nó liền biến thành một con rắn. Mô-sê vọt chạy để tránh con rắn.

Bản Dịch Mới (NVB)

3CHÚA bảo: “Con hãy ném cây gậy xuống đất.” Môi-se ném cây gậy xuống đất và gậy biến thành con rắn. Môi-se chạy trốn rắn.

Bản Phổ Thông (BPT)

3CHÚA phán, “Hãy ném nó xuống đất.”Mô-se ném xuống đất thì nó biến ra con rắn. Mô-se chạy trốn khỏi nó.

Nau Brah Ndu Ngơi (BBSV)

4Yêhôva lah ma Y-Môis: "Yơr ti may jêh ri nhŭp bêh ta chiăng." Pô ri păng yơr ti nhŭp bêh, jêh ri bêh plơ̆ jêng mâng tâm ti păng:

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

4Đức Giê-hô-va bèn phán cùng Môi-se rằng: Hãy giơ tay ngươi ra nắm đuôi nó. Người giơ tay ra nắm, thì nó hoàn lại cây gậy trong tay.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

4Nhưng Đức Giê-hô-va phán với Môi-se: “Hãy đưa tay nắm lấy đuôi nó.” Ông đưa tay bắt con rắn và nó lại biến thành cây gậy trong tay ông.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

4 Nhưng CHÚA bảo Mô-sê, “Hãy đưa tay ra và nắm đuôi nó.” Ông đưa tay ra và chộp đuôi nó. Nó liền biến thành cây gậy trở lại trong tay ông.

Bản Dịch Mới (NVB)

4Nhưng CHÚA bảo ông: “Con đưa tay ra nắm lấy đuôi rắn đi.” Môi-se đưa tay nắm con rắn và rắn lại thành cây gậy trong tay Môi-se.

Bản Phổ Thông (BPT)

4Nhưng CHÚA bảo ông, “Hãy giơ tay ra nắm đuôi nó.”Khi Mô-se giơ tay nắm con rắn thì nó trở thành cây gậy như cũ.

Nau Brah Ndu Ngơi (BBSV)

5"Nau nây gay ma khân păng chroh ma gâp Yêhôva, Brah Ndu Y-Abraham, Brah Ndu Y-Isăk, jêh ri Brah Ndu Y-Yakôb tâm mpơl jêh ma may."

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

5Đức Giê-hô-va phán rằng: Ấy để cho chúng nó tin rằng Giê-hô-va, Đức Chúa Trời của tổ phụ mình, là Đức Chúa Trời của Áp-ra-ham, Đức Chúa Trời của Y-sác, Đức Chúa Trời của Gia-cốp, đã hiện ra cùng ngươi.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

5Đức Giê-hô-va phán: “Việc nầy là để họ tin rằng Giê-hô-va, Đức Chúa Trời của tổ phụ họ, là Đức Chúa Trời của Áp-ra-ham, Đức Chúa Trời của Y-sác, Đức Chúa Trời của Gia-cốp, đã hiện ra với con.”

Bản Dịch 2011 (BD2011)

5 “Nhờ dấu lạ nầy chúng có thể tin rằng CHÚA, Ðức Chúa Trời của tổ tiên chúng, Ðức Chúa Trời của Áp-ra-ham, Ðức Chúa Trời của I-sác, và Ðức Chúa Trời của Gia-cốp, đã hiện ra với ngươi.”

Bản Dịch Mới (NVB)

5CHÚA phán: “Phép lạ này để cho họ biết rằng CHÚA, Đức Chúa Trời của tổ tiên họ, Đức Chúa Trời của Áp-ra-ham, Đức Chúa Trời của Y-sác, Đức Chúa Trời của Gia-cốp, đã hiện ra với con.”

Bản Phổ Thông (BPT)

5CHÚA phán, “Nhờ dấu hiệu nầy, dân Ít-ra-en sẽ tin rằng CHÚA, Thượng Đế của tổ tiên các con, Thượng Đế của Áp-ra-ham, Thượng Đế của Y-sác, và Thượng Đế của Gia-cốp, đã hiện ra cùng con.”

Nau Brah Ndu Ngơi (BBSV)

6Yêhôva plơ̆ lah ma păng: "Dơm ti may ta ntang ntơh may." Păng dơm ti păng tâm ntang ntơh păng; jêh ri tơ lah păng tŏk, aơ ti păng geh phŭng, nglang nâm bu pler.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

6Đức Giê-hô-va lại phán rằng: Hãy đặt tay ngươi vào lòng. Người liền đặt vào, rồi lấy ra. Nầy, tay người nổi phung trắng như tuyết.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

6Đức Giê-hô-va lại phán với Môi-se: “Hãy đặt tay con vào ngực.” Ông đặt tay vào ngực, và khi lấy tay ra, kìa, tay ông nổi phong hủi trắng như tuyết.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

6 CHÚA lại phán với ông, “Hãy đút tay ngươi vào trong vạt áo.” Ông đút tay vào trong vạt áo, rồi rút tay ra. Này, tay ông bị phung, trắng như tuyết.

Bản Dịch Mới (NVB)

6CHÚA bảo: “Con hãy đặt tay vào bụng.” Môi-se đặt tay vào bụng, khi rút tay ra ông thấy tay bị phung trắng như tuyết.

Bản Phổ Thông (BPT)

6Rồi CHÚA bảo Mô-se, “Hãy cho tay con vào bên trong áo.”Mô-se cho tay vào bên trong áo. Khi ông rút tay ra thì tay trở nên trắng như mắc bệnh ngoài da.

Nau Brah Ndu Ngơi (BBSV)

7Yêhôva lah: "Plơ̆ dơm ti may tâm ntang ntơh may." Pô ri păng plơ̆ dơm ti păng tâm ntang ntơh păng; jêh ri tơ lah păng tŏk tă bơh nây, aơ păng plơ̆ jêng nâm bu nglay săk păng nơm.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

7Đoạn, Ngài phán rằng: Hãy đặt tay ngươi vào lòng lại; người bèn đặt vào, rồi lấy ra. Kìa, tay trở lại như thịt mình.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

7Rồi Ngài phán: “Hãy đặt tay con vào ngực một lần nữa.” Ông lại đặt tay vào ngực, và khi lấy tay ra, kìa, da thịt tay ông trở lại bình thường.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

7 Ðức Chúa Trời phán, “Hãy đút tay ngươi vào vạt áo lại.” Ông đút tay ông vào trong vạt áo lại rồi rút ra, và này, tay ông lành lặn trở lại, giống như da thịt ông.

Bản Dịch Mới (NVB)

7Chúa lại bảo: “Bây giờ con đặt tay vào bụng trở lại.” Môi-se đặt tay vào bụng và khi ông rút tay ra, tay đã lành lặn như những chỗ khác.

Bản Phổ Thông (BPT)

7Ngài bảo, “Bây giờ cho tay con vào trong áo trở lại.” Mô-se cho tay vào áo trở lại. Khi rút tay ra thì tay lành lặn như cũ, da giống như bình thường.

Nau Brah Ndu Ngơi (BBSV)

8Brah Ndu lah: "Tơ lah khân păng mâu chroh ôh ma may, mâu ŭch chroh ma nau tâm mbên lor, klăp lah khân păng mra chroh ma nau tâm mbên tal bar aơ.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

8Lại phán: Nếu khi nào dân đó chẳng tin ngươi và chẳng vâng theo tiếng của dấu thứ nhứt, thì sẽ tin theo tiếng của dấu thứ nhì.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

8Ngài lại phán: “Nếu họ không tin con mà cũng không nghe tiếng phán qua dấu lạ thứ nhất, thì sẽ tin dấu lạ thứ hai.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

8 “Như vậy, nếu chúng không tin ngươi và không phục phép lạ thứ nhất, chúng có thể tin vào phép lạ thứ hai.

Bản Dịch Mới (NVB)

8Sau đó Chúa phán: “Nếu họ không tin con hay không chú ý đến phép lạ thứ nhất, họ có thể tin phép lạ thừ nhì.

Bản Phổ Thông (BPT)

8Sau đó CHÚA bảo, “Nếu dân chúng không tin hay không lưu ý đến phép lạ thứ nhất, họ sẽ tin khi con làm phép lạ thứ nhì.

Nau Brah Ndu Ngơi (BBSV)

9Tơ lah mâu chroh ôh ma lĕ bar ntil nau mbên nây, mâu lĕ păng iăt nau may, ăn may sŏk dak bơh dak krong jêh ri nkhŭt ta neh sơh; jêh ri dak may sŏk jêh bơh dak krong nây mra jêng mham ta neh sơh."

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

9Vả lại, nếu dân chẳng tin cả hai dấu nầy, và không vâng theo lời ngươi, thì hãy lấy nước dưới sông mà làm tràn ngập trên mặt đất; nước mà ngươi đã lấy dưới sông lên đó, sẽ thành máu trên mặt đất vậy.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

9Nhưng nếu họ chẳng tin cả hai dấu lạ ấy và cũng không vâng theo lời con, thì hãy lấy nước dưới sông mà đổ tràn trên đất khô; nước mà con đã lấy từ dưới sông đó sẽ biến thành máu trên mặt đất.”

Bản Dịch 2011 (BD2011)

9 Nếu với cả hai phép lạ ấy mà chúng vẫn không tin và nghe lời ngươi, hãy múc nước của Sông Nin đổ ra trên đất khô. Nước ngươi múc từ Sông Nin và đổ ra trên đất khô sẽ biến thành máu.”

Bản Dịch Mới (NVB)

9Nhưng nếu họ không tin hai dấu lạ ấy hay không nghe con, con hãy lấy nước dưới sông Ninh và đổ ra trên đất khô. Nước con lấy dưới sông sẽ trở thành máu trên mặt đất.”

Bản Phổ Thông (BPT)

9Sau hai phép lạ đó, nếu họ vẫn không tin hay không nghe con thì hãy lấy ít nước sông Nin đổ lên đất khô. Nước sẽ biến ra máu khi chạm đất.”

Nau Brah Ndu Ngơi (BBSV)

10Ƀiălah Y-Môis lah ma Yêhôva: "Ơ Kôranh Brah gâp mâu jêng du huê bunuyh ngơi ueh ôh mâu lĕ di nglĕ lor ma nau may ngơi ma tông mpăr may, yorlah mbung gâp jêh ri mpiăt gâp ngơi mbrơi."

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

10Môi-se thưa cùng Đức Giê-hô-va rằng: Ôi! lạy Chúa, từ hôm qua, hôm kia, hay là từ lúc Chúa phán dạy kẻ tôi tớ Chúa, tôi vẫn chẳng phải một tay nói giỏi, vì miệng và lưỡi tôi hay ngập ngừng.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

10Môi-se thưa với Đức Giê-hô-va rằng: “Ôi! Lạy Chúa, từ trước đến nay và ngay cả lúc Chúa phán bảo đầy tớ Ngài, con vốn không có tài ăn nói, miệng lưỡi con hay ngập ngừng.”

Bản Dịch 2011 (BD2011)

10 Mô-sê thưa với CHÚA, “Ôi lạy Chúa, lâu nay con không phải là một người có khả năng ăn nói, trước kia hay bây giờ cũng vậy. Từ lúc Ngài phán với tôi tớ Ngài đến giờ, con chỉ là một người nói năng lọng cọng, miệng lưỡi líu quýu.”

Bản Dịch Mới (NVB)

10Môi-se thưa với CHÚA: “Thưa Chúa, con đâu có tài hùng biện, trong quá khứ đã vậy mà từ khi Chúa phán với con cũng chẳng hơn gì, vì miệng lưỡi con chậm chạp ngập ngừng.”

Bản Phổ Thông (BPT)

10Nhưng Mô-se thưa với CHÚA, “Thưa CHÚA, con không phải là người ăn nói lưu loát. Ngay như bây giờ sau khi nói chuyện với Ngài, con vẫn không nói được trôi chảy. Con nói chậm chạp và hay ấp úng.”

Nau Brah Ndu Ngơi (BBSV)

11Yêhôva lah ma păng: "Mbu nâm njêng trôm mbung bunuyh? Jêh ri mbu ăn bunuyh jêng mlo, mâu lah tĭk, dơi saơ mâu lah chieh măt? Mâu hĕ gâp jêng, Yêhôva?

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

11Đức Giê-hô-va bèn phán rằng: Ai tạo miệng loài người ra? hay là ai đã làm câm, làm điếc, làm sáng, làm mờ? Có phải ta là Đức Giê-hô-va chăng?

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

11Đức Giê-hô-va phán với ông: “Ai tạo ra môi miệng loài người? Ai đã làm cho con người thành câm, thành điếc, thành sáng, thành mù? Chẳng phải bởi Ta, là Đức Giê-hô-va đó sao?

Bản Dịch 2011 (BD2011)

11 CHÚA hỏi ông, “Ai ban cho loài người khả năng ăn nói? Ai làm câm, làm điếc, làm sáng, làm mù? Há chẳng phải Ta là CHÚA hay sao?

Bản Dịch Mới (NVB)

11CHÚA hỏi ông: “Ai tạo ra miệng? Ai làm điếc làm câm? Ai ban thị giác và ai làm đui mù? có phải Ta, CHÚA không?

Bản Phổ Thông (BPT)

11CHÚA liền hỏi, “Ai làm ra miệng con người? Ai làm điếc, làm câm? Ai làm sáng hay mù mắt? Chính ta là CHÚA làm ra những việc đó.

Nau Brah Ndu Ngơi (BBSV)

12Pô ri hăn hom gâp mra gŭ ndrel ma trôm mbung may, jêh ri gâp mra sâm nti may moh nau may mra ngơi."

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

12Vậy bây giờ, hãy đi; ta sẽ ở cùng miệng ngươi và dạy ngươi những lời phải nói.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

12Vậy bây giờ hãy đi đi, Ta sẽ ở với miệng con và dạy con những lời phải nói.”

Bản Dịch 2011 (BD2011)

12 Bây giờ hãy đi, Ta sẽ ở cùng miệng ngươi và dạy ngươi những lời phải nói.”

Bản Dịch Mới (NVB)

12Con cứ đi đi, Ta sẽ giúp đỡ miệng lưỡi con và chỉ dạy cho con điều phải nói.”

Bản Phổ Thông (BPT)

12Bây giờ hãy đi! Ta sẽ giúp con nói, và chính ta sẽ dạy con những gì phải nói.”

Nau Brah Ndu Ngơi (BBSV)

13Ƀiălah Y-Môis lah: "Ơ kôranh Brah gâp dăn ma may, njuăl hom nơm êng hăn."

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

13Môi-se thưa rằng: Ôi! lạy Chúa, Chúa muốn sai ai đi, thì sai.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

13Môi-se thưa: “Ôi! Lạy Chúa, xin Chúa sai người khác.”

Bản Dịch 2011 (BD2011)

13 Nhưng ông đáp, “Ôi lạy Chúa, xin Ngài sai người khác đi.”

Bản Dịch Mới (NVB)

13Nhưng Môi-se vẫn chối từ: “Thưa Chúa, xin Chúa sai người khác làm việc đó.”

Bản Phổ Thông (BPT)

13Nhưng Mô-se thưa, “Lạy CHÚA, xin sai người khác đi.”

Nau Brah Ndu Ngơi (BBSV)

14Pô ri Yêhôva hao nuih ji nuih ma Y-Môis jêh ri păng lah, Mâu di hĕ geh Y-Arôn nâu may, du huê Lêvi? Gâp gĭt păng dơi ngơi ueh. Aơ, păng văch gay tâm mâp đah may, jêh ri tơ lah păng saơ may păng mra geh nau maak tâm nuih n'hâm păng.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

14Đức Giê-hô-va bèn nổi giận cùng Môi-se mà phán rằng: Có phải A-rôn, người Lê-vi, là anh ngươi chăng? Ta biết người đó có tài nói giỏi, và kìa, người đương đi đến đón ngươi kia; khi thấy ngươi, chắc sẽ vui mừng trong lòng.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

14Đức Giê-hô-va nổi giận với Môi-se, Ngài phán: “Chẳng phải A-rôn, người Lê-vi, là anh con đó sao? Ta biết người ấy có tài ăn nói. Kìa, anh ta đang đến gặp con đó; gặp được con, lòng anh ta sẽ vui lắm.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

14 Bấy giờ CHÚA nổi giận với Mô-sê; Ngài phán, “Có phải A-rôn người Lê-vi là anh ngươi chăng? Ta biết nó có khẩu tài. Kìa nó đang đến thăm ngươi. Khi nó gặp ngươi, lòng nó sẽ vui mừng.

Bản Dịch Mới (NVB)

14Cơn giận của CHÚA phừng lên nghịch cùng Môi-se và Ngài hỏi: “Còn A-rôn người Lê-vi anh con, thì sao? Ta biết anh con nói giỏi. A-rôn đang đến đây kiếm con và sẽ vui mừng lắm khi gặp mặt con.

Bản Phổ Thông (BPT)

14CHÚA liền nổi giận cùng Mô-se và bảo, “A-rôn, anh con thuộc dòng họ Lê-vi, là người có tài ăn nói. Người đang đi tìm con và sẽ vui mừng khi gặp được.

Nau Brah Ndu Ngơi (BBSV)

15Ăn may ngơi ma păng jêh ri dơm rplay ngơi tâm trôm mbung păng jêh ri gâp mra gŭ ndrel ma trôm mbung may jêh ri trôm mbung păng jêh ri gâp mra nti may moh nau may mra ƀư.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

15Vậy ngươi hãy nói cùng người, và sắp để những lời trong miệng người. Khi hai ngươi nói, ta sẽ ở cùng miệng ngươi và miệng anh ngươi, dạy các ngươi những điều gì phải làm.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

15Con hãy nói với anh con, và sắp đặt lời lẽ vào miệng anh ta. Chính Ta sẽ ở với miệng con cũng như miệng anh con và dạy các con những gì phải làm.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

15 Ngươi sẽ nói chuyện với nó và đặt lời vào miệng nó. Ta sẽ ở cùng miệng ngươi và miệng nó. Ta sẽ chỉ dạy ngươi những gì ngươi phải làm.

Bản Dịch Mới (NVB)

15Con sẽ nói với anh con và đặt lời con trong miệng người ấy. Chính Ta sẽ giúp đỡ hai anh em con ăn nói và sẽ dạy các con điều phải làm.

Bản Phổ Thông (BPT)

15Con hãy nói với A-rôn và bảo người những gì phải nói. Ta sẽ giúp hai con nói, và dạy những gì hai con phải làm.

Nau Brah Ndu Ngơi (BBSV)

16Păng mra ngơi ma phung ƀon lan nsro ntŭk may; păng mra jêng trôm mbung ma may, jêh ri may mra jêng nâm bu Brah Ndu păng.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

16Ấy là người đó sẽ nói cùng dân sự thế cho ngươi, dùng làm miệng ngươi, còn ngươi sẽ dường như Đức Chúa Trời cho người vậy.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

16Chính anh con sẽ là người phát ngôn cho con trước dân chúng, là cái miệng cho con, còn con sẽ như là Đức Chúa Trời cho anh ta vậy.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

16 Nó sẽ thay ngươi nói với dân. Nó sẽ làm phát ngôn viên của ngươi, còn ngươi, ngươi sẽ như Ðức Chúa Trời của nó.

Bản Dịch Mới (NVB)

16A-rôn sẽ thay con nói chuyện với dân chúng và con sẽ như miệng lưỡi của A-rôn và như chúa của người ấy vậy.

Bản Phổ Thông (BPT)

16A-rôn sẽ nói với dân chúng thế cho con. Con sẽ bảo người những gì Thượng Đế nói, rồi người sẽ nói thế con.

Nau Brah Ndu Ngơi (BBSV)

17Ăn may djôt leo mâng aơ. Ma mâng aơ may mra ƀư lĕ nau tâm mbên."

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

17Ngươi hãy cầm lấy gậy nầy nơi tay, để dùng làm các dấu lạ.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

17Con hãy cầm gậy nầy trên tay để dùng làm các dấu lạ.”

Bản Dịch 2011 (BD2011)

17 Hãy cầm lấy cây gậy nầy trong tay và dùng nó để làm phép lạ.”

Bản Dịch Mới (NVB)

17Con cầm gậy trong tay để có thể dùng gậy làm các phép lạ.”

Bản Phổ Thông (BPT)

17Hãy cầm theo cây gậy để làm phép lạ.”

Nau Brah Ndu Ngơi (BBSV)

18Y-Môis sĭt ta po păng Y-Jêtrô jêh ri lah: "Gâp dăn ma may, ăn gâp hăn tâm mâp đah phung oh nâu gâp ta n'gor Êjipt, gay gĭt tơ lah khân păng hôm gŭ rêh: "Y-Jêtrô lah ma Y-Môis: "Hăn đăp mpăn hom."

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

18Môi-se bèn đi, trở về Giê-trô, ông gia mình, mà thưa rằng: Xin cha hãy cho tôi trở về nơi anh em tôi tại xứ Ê-díp-tô, đặng thăm thử họ còn sống chăng. Giê-trô bèn nói cùng Môi-se rằng: Con hãy đi bình yên.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

18Môi-se trở về với Giê-trô, ông gia mình và thưa: “Xin cha cho con trở lại với anh em con tại Ai Cập để xem họ sống chết ra sao.” Giê-trô nói với Môi-se: “Con hãy đi bình an.”

Bản Dịch 2011 (BD2011)

18 Mô-sê trở về gặp Giê-trô nhạc phụ của ông và thưa, “Xin cha cho con về Ai-cập thăm anh chị em con, xem họ còn sống chăng.”Giê-trô trả lời Mô-sê, “Con hãy đi bình an.”

Bản Dịch Mới (NVB)

18Môi-se trở về gặp Giê-trô ông gia mình và thưa rằng: “Xin cha cho con trở về với dân tộc con tại Ai-cập để xem họ sống chết thế nào.” Giê-trô đáp: “Chúc con lên đường bình an.”

Bản Phổ Thông (BPT)

18Mô-se trở về với Giê-trô, cha vợ mình và nói, “Xin cho phép con trở về với dân tộc con ở Ai-cập. Con muốn biết họ còn sống sót không.”Giê-trô bảo Mô-se, “Con cứ đi! Cha chúc con may mắn.”

Nau Brah Ndu Ngơi (BBSV)

19Yêhôva lah ma Y-Môis tâm n'gor Midian: "Plơ̆ sĭt hom ta n'gor Êjipt; yorlah lĕ rngôch bunuyh ŭch ƀư ma may, khĭt jêh."

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

19Vả, Đức Giê-hô-va có phán cùng Môi-se tại Ma-đi-an rằng: Hãy trở về xứ Ê-díp-tô, vì mấy người tìm giết ngươi đã chết hết rồi.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

19Đức Giê-hô-va đã phán với Môi-se tại Ma-đi-an rằng: “Hãy trở về Ai Cập vì tất cả những người tìm hại mạng sống con đã chết hết rồi.”

Bản Dịch 2011 (BD2011)

19 Khi Mô-sê còn ở Mi-đi-an, CHÚA phán với ông, “Hãy trở về Ai-cập, vì những kẻ muốn giết ngươi đã chết.”

Bản Dịch Mới (NVB)

19CHÚA đã phán dạy Môi-se trong xứ Ma-đi-an rằng: “Con cứ trở lại xứ Ai-cập vì những người tìm giết con đã chết hết rồi.”

Bản Phổ Thông (BPT)

19Trong khi Mô-se còn đang ở tại Mi-đi-an, CHÚA bảo ông, “Hãy trở về Ai-cập, vì những người muốn giết con đã chết hết rồi.”

Nau Brah Ndu Ngơi (BBSV)

20Pô ri Y-Môis sŏk ur păng jêh ri phung kon bu klâu păng, ăn khân păng ncho seh bri, jêh ri plơ̆ sĭt ta n'gor Êjipt. Păng djôt tâm ti păng, mâng Brah Ndu.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

20Môi-se bèn đỡ vợ và con mình lên lưng lừa, trở về xứ Ê-díp-tô. Người cũng cầm cây gậy của Đức Chúa Trời theo trong tay.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

20Môi-se đỡ vợ và các con trai mình lên lưng lừa và lên đường trở về Ai Cập. Ông cũng cầm trong tay cây gậy của Đức Chúa Trời.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

20 Vậy Mô-sê dẫn vợ và các con trai ông ra đi. Ông đỡ họ cỡi trên lưng lừa trở về xứ Ai-cập; còn Mô-sê thì cầm cây gậy của Ðức Chúa Trời trong tay.

Bản Dịch Mới (NVB)

20Môi-se đỡ vợ con lên lưng lừa và lên đường trở về Ai-cập, trong tay có cầm cây gậy của Đức Chúa Trời.

Bản Phổ Thông (BPT)

20Nên Mô-se mang vợ và các con trai cho lên lưng lừa và lên đường trở về Ai-cập. Ông cũng mang theo cây gậy của Thượng Đế.

Nau Brah Ndu Ngơi (BBSV)

21Yêhôva lah ma Y-Môis: "Tơ lah may sĭt ta n'gor Êjipt, ăn may ƀư ta năp Pharaôn lĕ rngôch nau khlay gâp ăn jêh ma may dơi ƀư. Ƀiălah gâp mra ƀư dăng nuih n'hâm păng, pô ri păng mâu ăn phung ƀon lan hăn ôh, pô ri păng mâu ăn phung ƀon lan hăn ôh.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

21Đức Giê-hô-va phán cùng Môi-se rằng: Khi trở về xứ Ê-díp-tô, hãy cẩn thận về các dấu lạ của ta đã giao nơi tay ngươi mà làm trước mặt Pha-ra-ôn; nhưng ta sẽ khiến người cứng lòng chẳng cho dân sự đi.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

21Đức Giê-hô-va phán với Môi-se: “Khi trở về Ai Cập, con hãy thi thố các dấu lạ Ta đã giao vào tay con để thực hiện trước mặt Pha-ra-ôn. Nhưng Ta sẽ khiến vua Ai Cập cứng lòng, không cho dân chúng ra đi.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

21 CHÚA phán với Mô-sê, “Khi ngươi trở về tới Ai-cập, hãy làm những phép lạ Ta cho tay ngươi có quyền làm, trước mặt Pha-ra-ôn, nhưng Ta sẽ để cho nó cứng lòng, hầu nó sẽ không cho dân đi.

Bản Dịch Mới (NVB)

21CHÚA phán dặn Môi-se: “Khi trở về Ai-cập, con sẽ làm trước Pha-ra-ôn các dấu kỳ phép lạ với quyền năng Ta ban cho. Nhưng Ta sẽ làm cứng lòng vua Ai-cập để người ấy không cho phép dân chúng ra đi.”

Bản Phổ Thông (BPT)

21CHÚA phán cùng Mô-se, “Khi con trở về Ai-cập, hãy làm các phép lạ mà ta đã ban quyền con làm. Hãy cho vua Ai-cập thấy các phép lạ đó. Nhưng ta sẽ làm cho nhà vua ngoan cố, người sẽ không để dân chúng đi đâu.

Nau Brah Ndu Ngơi (BBSV)

22Ăn may lah ma Pharaôn: 'Pô aơ Yêhôva ngơi; phung Israel jêng kon bu klâu gâp deh bôk rah.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

22Vậy, ngươi phải tâu cùng Pha-ra-ôn rằng: Đức Giê-hô-va có phán như vầy: Y-sơ-ra-ên là con ta, tức trưởng nam ta,

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

22Vậy con phải nói với Pha-ra-ôn rằng Đức Giê-hô-va có phán: ‘Y-sơ-ra-ên là con Ta, là con trưởng nam của Ta,

Bản Dịch 2011 (BD2011)

22 Bấy giờ ngươi sẽ nói với Pha-ra-ôn, ‘CHÚA phán thế nầy: I-sơ-ra-ên là con đầu lòng của Ta.

Bản Dịch Mới (NVB)

22Khi ấy con hãy nói với Pha-ra-ôn: CHÚA phán: “Y-sơ-ra-ên là con trưởng nam Ta,

Bản Phổ Thông (BPT)

22Lúc đó hãy bảo nhà vua, ‘Đây là lời CHÚA phán: Ít-ra-en là con đầu lòng của ta.

Nau Brah Ndu Ngơi (BBSV)

23Gâp lah ma may: "Ăn kon bu klâu gâp hăn gay ma păng dơi pah kan ma gâp." Ƀiălah may dun mâu ăn păng hăn ôh, aơ gâp mra nkhĭt kon bu klâu may deh bôk rah?"

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

23nên ta có phán cùng ngươi rằng: Hãy cho con ta đi, để nó phụng sự ta, mà ngươi đã từ chối không cho nó đi. Nầy, ta sẽ giết con trai ngươi, là con trưởng nam của ngươi.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

23nên Ta phán với ngươi rằng: Hãy cho con Ta đi, để nó phụng sự Ta. Nếu ngươi từ chối không chịu cho nó đi, nầy, Ta sẽ giết con trưởng nam của ngươi.’”

Bản Dịch 2011 (BD2011)

23 Ta truyền cho ngươi: Hãy để con Ta đi, để nó thờ phượng Ta. Nếu ngươi từ chối không để con Ta đi, này, Ta sẽ giết con đầu lòng của ngươi.’”

Bản Dịch Mới (NVB)

23và Ta bảo nhà ngươi: ‘Hãy để con Ta đi, để nó có thể thờ phượng Ta, nhưng nhà ngươi từ chối không để con Ta ra đi, như vậy Ta sẽ giết trưởng nam của ngươi.’ ”

Bản Phổ Thông (BPT)

23Ta đã bảo ngươi hãy để con ta đi để nó thờ phụng ta. Nhưng ngươi không chịu để dân Ít-ra-en đi, nên ta sẽ giết con trưởng nam của ngươi.’”

Nau Brah Ndu Ngơi (BBSV)

24Rŏ trong ta du ntŭk, ntŭk jưh, Yêhôva tâm mâp đah Y-Môis gay ma nkhĭt păng.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

24Vả, đương khi đi đường, Đức Giê-hô-va hiện ra trước mặt Môi-se nơi nhà quán, và kiếm thế giết người đi.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

24Dọc đường, tại một quán trọ, Đức Giê-hô-va hiện ra với Môi-se và tìm cách giết ông.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

24 Dọc đường, tại một chỗ họ dừng lại nghỉ đêm, CHÚA gặp Mô-sê và định giết ông.

Bản Dịch Mới (NVB)

24Dọc đường, CHÚA gặp Môi-se trong một quán trọ và suýt giết ông.

Bản Phổ Thông (BPT)

24Trong khi Mô-se đang trên đường về Ai-cập, ông dừng tại một chỗ để nghỉ đêm. CHÚA hiện ra cùng ông ở đó và định giết ông.

Nau Brah Ndu Ngơi (BBSV)

25Ƀiălah H'Sêpôra sŏk du mlâm lŭ hơr, koh ntâu kon bu klâu păng jêh ri klŭp ta jâng Y-Môis, lah: "Nanê̆ may jêng ma gâp du huê sai rung mham."

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

25Sê-phô-ra lấy con dao bằng đá, cắt dương bì của con mình, và quăng dưới chân Môi-se, mà nói rằng: Thật, chàng là huyết lang cho tôi!

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

25Sê-phô-ra lấy con dao bằng đá, cắt dương bì của con mình, rồi lấy nó chạm vào chân Môi-se, và nói: “Thật, chàng là người chồng huyết cho tôi!”

Bản Dịch 2011 (BD2011)

25 Nhưng bà Xíp-pô-ra lấy một mảnh đá lửa bén cắt đứt phần da quy đầu của con trai bà, rồi lấy nó chạm vào đôi chân Mô-sê, và nói, “Anh quả thật là người chồng có duyên nợ máu với em.”

Bản Dịch Mới (NVB)

25Nhưng Sê-phô-ra lấy con dao đá, cắt dương bì của con mình ném đụng chân Môi-se và nói: “Anh chính là chàng rể dính máu của tôi.”

Bản Phổ Thông (BPT)

25Nhưng Xíp-bô-ra lấy một con dao bằng đá lửa cắt dương bì cho con trai mình. Cầm miếng dương bì của con, nàng quẹt vào chân Mô-se và bảo, “Anh là chàng rể đổ máu của em.”

Nau Brah Ndu Ngơi (BBSV)

26Pô ri Yêhôva ăn Y-Môis gŭ rêh. Dôl nây ur păng lah: "May jêng du huê sai rung mham." Yor nau koh ntâu.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

26Đức Giê-hô-va tha chồng; nàng bèn nói rằng: Huyết lang! là vì cớ phép cắt bì.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

26Đức Giê-hô-va tha cho Môi-se. Do việc cắt bì nầy mà Sê-phô-ra nói: “Chàng là người chồng huyết”.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

26 Nhờ vậy CHÚA tha mạng ông. Lúc ấy bà nói, “Duyên nợ máu với chồng” để chỉ về phép cắt bì.

Bản Dịch Mới (NVB)

26Nhờ vậy CHÚA để cho ông yên. (Khi nói “Chàng rể dính máu” Sê-phô-ra đề cập đến lễ cắt bì).

Bản Phổ Thông (BPT)

26Nàng nói, “Anh là chàng rể đổ máu,” là vì nàng phải cắt dương bì cho con trai mình. Vì thế CHÚA tha không giết Mô-se.

Nau Brah Ndu Ngơi (BBSV)

27Yêhôva lah ma Y-Arôn: "Hăn hom ta ndrêch rdah gay tâm mâp đah Y-Môis." Păng hăn tâm mâp đah Y-Môis ta yôk Brah Ndu jêh ri tâm chŭm.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

27Đức Giê-hô-va phán cùng A-rôn rằng: Hãy đi đến đồng vắng, đón rước Môi-se. A-rôn bèn đi, gặp Môi-se tại núi của Đức Chúa Trời, và hôn người.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

27Đức Giê-hô-va phán với A-rôn: “Hãy vào trong hoang mạc để đón Môi-se.” A-rôn đi gặp Môi-se trên núi của Đức Chúa Trời và hôn ông.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

27 CHÚA phán với A-rôn, “Hãy vào đồng hoang để gặp Mô-sê.” Vậy A-rôn đi và gặp Mô-sê ở núi của Ðức Chúa Trời, và ôm hôn ông ấy.

Bản Dịch Mới (NVB)

27CHÚA phán dạy A-rôn: “Con đi vào sa mạc để gặp Môi-se.” Như vậy ông gặp Môi-se tại núi của Đức Chúa Trời và hôn em mình.

Bản Phổ Thông (BPT)

27Trong khi đó CHÚA bảo A-rôn, “Hãy đi ra sa mạc gặp Mô-se.” Khi A-rôn đi ra thì gặp Mô-se ở núi của Thượng Đế, liền hôn Mô-se.

Nau Brah Ndu Ngơi (BBSV)

28Y-Môis mbơh ma Y-Arôn lĕ rngôch nau Yêhôva ngơi njuăl jêh păng hăn, jêh ri lĕ rngôch nau tâm mbên Yêhôva đă păng mra ƀư.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

28Môi-se thuật lại cho A-rôn mọi lời của Đức Giê-hô-va sai mình truyền, và các dấu lạ mà Ngài đã dạy mình làm.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

28Môi-se thuật lại cho A-rôn mọi lời Đức Giê-hô-va sai ông nói và mọi dấu lạ Ngài truyền ông làm.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

28 Mô-sê thuật lại cho A-rôn mọi lời CHÚA đã sai ông và mọi phép lạ Ngài ban cho ông để thực hiện.

Bản Dịch Mới (NVB)

28Môi-se thuật lại cho A-rôn tất cả những điều CHÚA bảo ông nói và cũng kể lại các dấu kỳ phép lạ Chúa ra lệnh cho ông thi hành.

Bản Phổ Thông (BPT)

28Mô-se thuật lại cho A-rôn nghe những gì CHÚA đã bảo mình và thuật lại những phép lạ CHÚA dặn ông làm.

Nau Brah Ndu Ngơi (BBSV)

29Y-Môis jêh ri Y-Arôn hăn rƀŭn lĕ rngôch phung bu bŭnh bu ranh phung ƀon lan Israel.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

29Vậy, Môi-se đi cùng A-rôn, nhóm lại các trưởng lão dân Y-sơ-ra-ên.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

29Môi-se và A-rôn đi triệu tập tất cả các trưởng lão của dân Y-sơ-ra-ên.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

29 Ðoạn Mô-sê và A-rôn đi và triệu tập tất cả các trưởng lão của I-sơ-ra-ên.

Bản Dịch Mới (NVB)

29Môi-se và A-rôn triệu tập các bô lão Y-sơ-ra-ên,

Bản Phổ Thông (BPT)

29Mô-se và A-rôn đi triệu tập tất cả các bô lão của Ít-ra-en lại.

Nau Brah Ndu Ngơi (BBSV)

30Y-Arôn nkoch bri lĕ rngôch rplay ngơi Yêhôva ngơi jêh ma Y-Môis, jêh ri păng ƀư lĕ nau tâm mbên ta năp phung ƀon lan.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

30A-rôn bèn thuật hết các lời của Đức Giê-hô-va đã phán cùng Môi-se, và làm những dấu lạ trước mặt dân sự.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

30A-rôn thuật lại tất cả những lời Đức Giê-hô-va đã phán với Môi-se, và làm những dấu lạ trước mặt dân chúng.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

30 A-rôn thuật cho họ nghe tất cả những lời CHÚA đã phán với Mô-sê, và Mô-sê làm các phép lạ trước mặt dân.

Bản Dịch Mới (NVB)

30rồi A-rôn thuật lại cho họ mọi điều CHÚA đã phán với Môi-se. Ông cũng làm các phép lạ trước mặt dân chúng,

Bản Phổ Thông (BPT)

30A-rôn thuật lại cho họ nghe mọi điều CHÚA dặn bảo Mô-se. Rồi Mô-se làm phép lạ cho mọi người thấy,

Nau Brah Ndu Ngơi (BBSV)

31Jêh ri phung ƀon lan chroh. Tơ lah Yêhôva tăng khâl jêh đah phung ƀon lan Israel jêh ri saơ jêh nau rêh ni khân păng, khân păng kŭnh bôk jêh ri mbah yơk.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

31Chúng bèn tin, hiểu rằng Đức Giê-hô-va đã thăm viếng dân Y-sơ-ra-ên, và thấy điều cực khổ của mình; chúng bèn cúi đầu và thờ lạy.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

31Dân chúng tin. Khi nghe rằng Đức Giê-hô-va đã thăm viếng dân Y-sơ-ra-ên cũng như đã thấy cảnh khổ đau của họ, thì họ cúi đầu thờ lạy.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

31 Bấy giờ dân tin. Khi họ biết rằng CHÚA đang đoái đến dân I-sơ-ra-ên và đã thấy nỗi khốn khổ của họ, họ sấp mình xuống và thờ lạy Ngài.

Bản Dịch Mới (NVB)

31và những người ấy tin lời ông. Khi nghe rằng CHÚA lưu tâm đến họ và thấu rõ nỗi đau khổ của họ, họ liền cúi đầu thờ phượng.

Bản Phổ Thông (BPT)

31nên tất cả dân chúng Ít-ra-en đều tin. Khi họ nghe rằng CHÚA rất lo ngại cho họ và đã thấy những nỗi khổ cực của họ thì họ cúi xuống bái lạy Ngài.