So Sánh Bản Dịch(Tối đa 6 bản dịch)


New International Version(NIV)

Bản Truyền Thống 1926(VI1934)

Bản Hiệu Đính Truyền Thống(RVV11)

Bản Dịch 2011(BD2011)

Bản Dịch Mới(NVB)

Bản Phổ Thông(BPT)

New International Version (NIV)

1What advantage, then, is there in being a Jew, or what value is there in circumcision?

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

1Vậy thì, sự trổi hơn của người Giu-đa là thể nào, hay là phép cắt bì có ích gì chăng?

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

1Vậy thì làm người Do Thái có ích lợi gì không? Hay sự cắt bì có giá trị gì?

Bản Dịch 2011 (BD2011)

1Vậy thì làm người Do-thái có ích gì chăng? Hoặc được cắt bì có lợi gì chăng?

Bản Dịch Mới (NVB)

1Vậy thì người Do Thái được gì thuận lợi hơn? Hay phép cắt bì có lợi ích gì?

Bản Phổ Thông (BPT)

1Thế thì người Do-thái có gì hơn những dân tộc khác? Phép cắt dương bì có gì đặc biệt?

New International Version (NIV)

2Much in every way! First of all, the Jews have been entrusted with the very words of God.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

2Ích lớn đủ mọi đàng. Trước hết là điều nầy: Ấy là lời phán của Đức Chúa Trời đã phó cho dân Giu-đa.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

2Ích lợi đủ mọi mặt. Trước hết, người Do Thái được ủy thác lời của Đức Chúa Trời.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

2Có ích lợi nhiều lắm. Có giá trị đủ mọi mặt. Trước hết người Do-thái được Ðức Chúa Trời ủy thác Lời Ngài cho họ.

Bản Dịch Mới (NVB)

2Lợi nhiều về mọi mặt. Trước hết, người Do Thái được ký thác Lời của Đức Chúa Trời.

Bản Phổ Thông (BPT)

2Dĩ nhiên là có, về nhiều mặt. Điểm quan trọng nhất là: Thượng Đế đã trao lời dạy dỗ của Ngài cho người Do-thái.

New International Version (NIV)

3What if some were unfaithful? Will their unfaithfulness nullify God’s faithfulness?

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

3Mà làm sao! Nếu một vài người trong bọn họ không thành tín, thì sự không thành tín của họ có làm cho sự thành tín của Đức Chúa Trời ra hư không sao?

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

3Nhưng việc gì sẽ xảy ra nếu một vài người trong số họ không tin? Liệu sự vô tín của họ có vô hiệu hóa sự thành tín của Đức Chúa Trời không?

Bản Dịch 2011 (BD2011)

3Nếu có một số người bất trung thì sao? Liệu sự vô tín của họ sẽ vô hiệu hóa sự thành tín của Ðức Chúa Trời chăng?

Bản Dịch Mới (NVB)

3Nhưng nếu một số người không tin nhận thì sao? Sự thất tín của họ có làm vô hiệu sự thành tín của Đức Chúa Trời không?

Bản Phổ Thông (BPT)

3Nếu có một vài người Do-thái bất trung với Ngài, có phải vì vậy mà Ngài không thực hiện lời Ngài đã hứa sao?

New International Version (NIV)

4Not at all! Let God be true, and every human being a liar. As it is written: “So that you may be proved right when you speak and prevail when you judge.”

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

4Chẳng hề như vậy! Thà xưng Đức Chúa Trời là thật và loài người là giả dối, như có chép rằng: Ấy vậy Chúa sẽ được xưng công bình trong lời phán của Ngài, Và sẽ được thắng khi chịu xét đoán.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

4Chẳng hề như vậy! Đức Chúa Trời là chân thật, mặc dù mọi người đều giả dối, như có lời chép:“Để Chúa được nhìn nhận là công chính trong lời Ngài phán,Và đắc thắng khi bị xét đoán.”

Bản Dịch 2011 (BD2011)

4Chẳng hề như vậy! Dù mọi người đều dối trá, Ðức Chúa Trời vẫn luôn luôn chân thật, như có chép rằng,“Hầu Chúa luôn luôn đúng mỗi khi Ngài tuyên phán,Và luôn luôn đắc thắng mỗi khi Ngài phán xét.”

Bản Dịch Mới (NVB)

4Chắc chắn là không. Đức Chúa Trời vẫn chân thật dù mọi người đều giả dối, như có chép: “Hầu cho Chúa được công nhận là công chính khi Ngài phán Và đắc thắng khi Ngài phán xét.”

Bản Phổ Thông (BPT)

4Không phải! Thượng Đế vẫn chân thật dù cho mọi người giả dối. Như Thánh Kinh viết:“Ngài được chứng tỏ là đúng khi Ngài phán,và lẽ phải sẽ về phần Ngài.” Thi thiên 51:4

New International Version (NIV)

5But if our unrighteousness brings out God’s righteousness more clearly, what shall we say? That God is unjust in bringing his wrath on us? (I am using a human argument.)

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

5Song nếu sự không công bình của chúng ta tỏ ra sự công bình của Đức Chúa Trời, thì sẽ nói làm sao? Khi Đức Chúa Trời giáng cơn giận thì Ngài không công bình sao? (Tôi nói như cách người ta nói.) ---

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

5Nhưng nếu sự không công chính của chúng ta chứng tỏ sự công chính của Đức Chúa Trời thì chúng ta sẽ nói làm sao? Có phải Đức Chúa Trời bất công khi Ngài giáng cơn giận trên chúng ta không? (Tôi nói theo cách nói của người đời)

Bản Dịch 2011 (BD2011)

5Nhưng nếu sự bất chính của chúng ta làm cho sự công chính của Ðức Chúa Trời được thể hiện rõ ràng hơn, thì chúng ta sẽ nói làm sao? Có phải Ðức Chúa Trời bất công khi Ngài giáng cơn thịnh nộ trên chúng ta chăng? (Tôi nói theo cách của người đời thường nói.)

Bản Dịch Mới (NVB)

5Nhưng nếu sự bất chính của chúng ta làm tỏ rạng sự công chính của Đức Chúa Trời thì chúng ta sẽ nói làm sao? Có phải Đức Chúa Trời bất công khi Ngài giáng thịnh nộ trên chúng ta không? (Tôi nói theo lối người đời.)

Bản Phổ Thông (BPT)

5Khi chúng ta phạm tội, điều đó chứng tỏ Thượng Đế đúng. Như thế có thể nào bảo rằng Thượng Đế trừng phạt chúng ta là sai chăng? (Tôi nói như một vài người thường nói)

New International Version (NIV)

6Certainly not! If that were so, how could God judge the world?

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

6Chẳng hề như vậy! Nếu vậy thì Đức Chúa Trời đoán xét thế gian thể nào?

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

6Chẳng hề như vậy! Vì nếu vậy thì làm sao Đức Chúa Trời phán xét thế gian được?

Bản Dịch 2011 (BD2011)

6Chẳng hề như vậy! Vì nếu thế, làm sao Ðức Chúa Trời có thể xét đoán thế gian được?

Bản Dịch Mới (NVB)

6Chắc chắn là không. Nếu vậy làm sao Đức Chúa Trời phán xét thế gian được?

Bản Phổ Thông (BPT)

6Không! Nếu Thượng Đế không trừng phạt chúng ta thì làm thế nào Ngài xét xử thế gian?

New International Version (NIV)

7Someone might argue, “If my falsehood enhances God’s truthfulness and so increases his glory, why am I still condemned as a sinner?”

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

7Nhưng, nếu lẽ thật Đức Chúa Trời bởi sự nói dối của tôi mà được sự vinh hiển lớn hơn, thì sao tôi còn bị đoán xét như kẻ có tội? ---

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

7Còn nếu nhờ sự dối trá của tôi mà chân lý của Đức Chúa Trời thêm vinh quang, thì tại sao tôi còn bị kết án như một tội nhân?

Bản Dịch 2011 (BD2011)

7Còn nếu nhờ vào sự dối trá của tôi mà đức chân thật của Ðức Chúa Trời được nổi bật lên, quy vinh hiển về cho Ngài, thì tại sao tôi còn bị kết án như một kẻ tội lỗi?

Bản Dịch Mới (NVB)

7Nhưng nếu chân lý của Đức Chúa Trời nhờ sự nói dối của tôi làm gia tăng vinh quang cho Ngài thì tại sao tôi còn bị xử như người có tội?

Bản Phổ Thông (BPT)

7Có người sẽ bảo, “Khi tôi nói dối tức là tôi làm vinh hiển Ngài, vì sự dối của tôi chứng tỏ Thượng Đế là thật. Thế thì tại sao tôi bị xét xử như người có tội?”

New International Version (NIV)

8Why not say—as some slanderously claim that we say—“Let us do evil that good may result”? Their condemnation is just!

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

8Vậy thì, sao chúng ta không làm sự dữ cho được sự lành, như kẻ gièm pha đã cáo và quyết rằng chúng ta dạy điều ấy?… Sự đoán phạt những người đó là công bình.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

8Vậy thì tại sao chúng ta không “làm điều ác để có điều lành?” — như một số người đã vu cáo rằng chúng tôi dạy như thế — Họ bị phán xét là đáng lắm.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

8Nếu như thế là đúng, thì tại sao “Chúng ta không cứ làm điều ác đi để được điều thiện” như mấy kẻ đã vu khống chúng tôi, bảo rằng chúng tôi đã nói như vậy? Họ bị định tội là đáng lắm!

Bản Dịch Mới (NVB)

8Sao không nói như một số người đã vu khống chúng tôi, quả quyết là chúng tôi nói: “chúng ta cứ làm điều ác để có thể đem lại điều lành.” Những kẻ nói như thế là đáng bị hình phạt lắm.

Bản Phổ Thông (BPT)

8Nói như thế cũng chẳng khác nào lập luận, “Phải làm ác để mang cái thiện đến.” Có người bịa đặt, cho rằng chúng tôi dạy như thế. Họ nói bậy và thật đáng phạt.

New International Version (NIV)

9What shall we conclude then? Do we have any advantage? Not at all! For we have already made the charge that Jews and Gentiles alike are all under the power of sin.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

9Thế nào! Chúng ta có điều gì hơn chăng? Chẳng có, vì chúng ta đã tỏ ra rằng người Giu-đa và người Gờ-réc thảy đều phục dưới quyền tội lỗi,

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

9Vậy thì sao? Chúng ta có điều gì tốt hơn không? Hoàn toàn không; vì chúng tôi đã xác nhận rằng cả người Do Thái và Hi Lạp đều ở dưới quyền lực của tội lỗi,

Bản Dịch 2011 (BD2011)

9Vậy thì sao? Chúng ta có khá hơn gì chăng?Không, chẳng khá hơn gì cả. Vì như chúng tôi đã chứng tỏ rằng, người Do-thái lẫn người Hy-lạp, tất cả đều ở dưới quyền lực của tội lỗi,

Bản Dịch Mới (NVB)

9Vậy thì sao? Chúng ta có gì trổi hơn không? Hoàn toàn không; vì chúng tôi đã tuyên bố rằng người Do Thái lẫn người Hy Lạp, tất cả đều ở dưới quyền tội lỗi.

Bản Phổ Thông (BPT)

9Thế thì người Do-thái có gì khá hơn dân tộc khác không? Không! Chúng ta đã nói rằng người Do-thái và tất cả dân tộc khác đều phạm tội.

New International Version (NIV)

10As it is written: “There is no one righteous, not even one;

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

10như có chép rằng: Chẳng có một người công bình nào hết, dẫu một người cũng không.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

10như có lời chép:“Chẳng có một ai công chính cả,Dù một người cũng không.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

10như có chép rằng,“Chẳng có ai công chính,Dù một người cũng không.

Bản Dịch Mới (NVB)

10Như có chép: “Chẳng có ai công chính cả, dù một người cũng không. Chẳng có ai hiểu biết.

Bản Phổ Thông (BPT)

10Như lời Thánh Kinh viết:“Chẳng có ai làm điều phải,kiếm một người cũng không ra.

New International Version (NIV)

11there is no one who understands; there is no one who seeks God.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

11Chẳng có một người nào hiểu biết, Chẳng có một người nào tìm kiếm Đức Chúa Trời.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

11Chẳng có một người nào hiểu biết,Chẳng có một người nào tìm kiếm Đức Chúa Trời.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

11Chẳng có người nào hiểu biết.Chẳng ai tìm kiếm Ðức Chúa Trời.

Bản Dịch Mới (NVB)

11Chẳng có ai tìm kiếm Đức Chúa Trời; Tất cả đều lầm lạc, Đều trở thành vô ích;

Bản Phổ Thông (BPT)

11Chẳng có ai hiểu biết.Không một người nào nhờ Thượng Đế cứu giúp.

New International Version (NIV)

12All have turned away, they have together become worthless; there is no one who does good, not even one.”

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

12Chúng nó đều sai lạc cả, thảy cùng nhau ra vô ích; Chẳng có một người làm điều lành, dẫu một người cũng không.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

12Tất cả đều lầm lạc, đều trở nên vô ích;Chẳng có một ai làm điều lành,Dù một người cũng không.”

Bản Dịch 2011 (BD2011)

12Tất cả đều lìa bỏ Ngài. Họ cùng nhau trở thành vô dụng. Chẳng có ai làm điều lành, Dù một người cũng không.

Bản Dịch Mới (NVB)

12Chẳng ai làm điều lành, Không được lấy một người.

Bản Phổ Thông (BPT)

12Mọi người đều quay lưng đi.Ai nấy đều trở thành vô dụng.Chẳng có một người làm lành,dù một người cũng chẳng có.” Thi thiên 14:1–3

New International Version (NIV)

13“Their throats are open graves; their tongues practice deceit.”“The poison of vipers is on their lips.”

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

13Họng chúng nó như huyệt mả mở ra; Dùng lưỡi mình để phỉnh gạt;Dưới môi chúng nó có nọc rắn hổ mang.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

13“Họng chúng nó như mồ mả mở toang;” “Chúng dùng lưỡi mình để dối gạt;Nọc rắn độc ẩn dưới môi của chúng.”

Bản Dịch 2011 (BD2011)

13Cổ họng chúng khác nào huyệt mả mở ra; Lưỡi chúng nói toàn những lời giả dối; Dưới môi chúng là nọc rắn độc.

Bản Dịch Mới (NVB)

13Cổ họng chúng như huyệt mả mở toang, Lưỡi chúng lừa dối, Dưới môi chúng chứa nọc rắn độc;

Bản Phổ Thông (BPT)

13“Miệng chúng mở toang ra như huyệt mả;dùng lưỡi mình để nói dối.” Thi thiên 5:9“Lời nói chúng hiểm độc như nọc rắn.” Thi thiên 140:3

New International Version (NIV)

14“Their mouths are full of cursing and bitterness.”

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

14Miệng chúng nó đầy những lời nguyền rủa và cay đắng.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

14“Miệng chúng nó đầy những lời nguyền rủa và cay đắng.”

Bản Dịch 2011 (BD2011)

14Miệng chúng chứa đầy những lời nguyền rủa và cay đắng.

Bản Dịch Mới (NVB)

14Miệng chúng nó đầy nguyền rủa và cay đắng;

Bản Phổ Thông (BPT)

14“Môi miệng chúng đầy nguyền rủavà ganh ghét.” Thi thiên 10:7

New International Version (NIV)

15“Their feet are swift to shed blood;

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

15Chúng nó có chân nhẹ nhàng đặng làm cho đổ máu.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

15“Chúng nhanh chân để gây đổ máu,

Bản Dịch 2011 (BD2011)

15Chân chúng lẹ làng đi gây đổ máu.

Bản Dịch Mới (NVB)

15Chân chúng nó mau lẹ làm đổ máu,

Bản Phổ Thông (BPT)

15“Lúc nào cũng sẵn sàng để giết hại người khác.

New International Version (NIV)

16ruin and misery mark their ways,

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

16Trên đường lối chúng nó rặc những sự tàn hại và khổ nạn,

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

16Chúng gieo rắc sự tàn hại và khốn cùng,

Bản Dịch 2011 (BD2011)

16Nẻo đường chúng đi qua để lại điêu tàn và đau khổ.

Bản Dịch Mới (NVB)

16Chúng gieo rắc tàn phá và đau khổ trên đường chúng đi qua,

Bản Phổ Thông (BPT)

16Nơi nào chúng đi đều gây ra tai hại và đau khổ.

New International Version (NIV)

17and the way of peace they do not know.”

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

17Chúng nó chẳng hề biết con đường bình an.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

17Chẳng bao giờ biết con đường bình an.”

Bản Dịch 2011 (BD2011)

17Chúng chẳng biết con đường hòa bình là gì.

Bản Dịch Mới (NVB)

17Và chúng chẳng hề biết con đường bình an.

Bản Phổ Thông (BPT)

17Chúng không biết sống hòa bình là gì.” Ê-sai 59:7–8

New International Version (NIV)

18“There is no fear of God before their eyes.”

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

18Chẳng có sự kính sợ Đức Chúa Trời ở trước mặt chúng nó.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

18“Chẳng có sự kính sợ Đức Chúa Trời trước mắt chúng.”

Bản Dịch 2011 (BD2011)

18Chẳng có sự kính sợ Ðức Chúa Trời ở trước mắt chúng.”

Bản Dịch Mới (NVB)

18Trước mắt chúng chẳng có sự kính sợ Đức Chúa Trời.”

Bản Phổ Thông (BPT)

18“Chúng chẳng biết sợ Thượng Đế gì cả.” Thi thiên 36:1

New International Version (NIV)

19Now we know that whatever the law says, it says to those who are under the law, so that every mouth may be silenced and the whole world held accountable to God.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

19Vả, chúng ta biết rằng những điều mà luật pháp nói, là nói cho mọi kẻ ở dưới luật pháp, hầu cho miệng nào cũng phải ngậm lại, cả thiên hạ đều nhận tội trước mặt Đức Chúa Trời;

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

19Chúng ta biết rằng những điều luật pháp nói, là nói cho những ai ở dưới luật pháp để mọi miệng đều phải nín lặng, và cả thiên hạ đều chịu tội trước mặt Đức Chúa Trời;

Bản Dịch 2011 (BD2011)

19Chúng ta biết rằng tất cả những gì Luật Pháp nói là nói cho những người ở dưới Luật Pháp để mọi miệng phải im lặng, và cả thế gian phải chịu sự phán xét của Ðức Chúa Trời,

Bản Dịch Mới (NVB)

19Nhưng chúng ta biết rằng những điều kinh luật dạy là dạy cho người ở dưới kinh luật để mọi miệng phải ngậm lại và để cả thế gian đều chịu tội trước Đức Chúa Trời.

Bản Phổ Thông (BPT)

19Chúng ta biết rằng những gì luật pháp dạy là dành cho những người có luật pháp. Vì thế không ai có thể bào chữa được, cho nên cả thế gian đều nằm dưới sự trừng phạt của Thượng Đế,

New International Version (NIV)

20Therefore no one will be declared righteous in God’s sight by the works of the law; rather, through the law we become conscious of our sin.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

20vì chẳng có một người nào bởi việc làm theo luật pháp mà sẽ được xưng công bình trước mặt Ngài, vì luật pháp cho người ta biết tội lỗi.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

20vì chẳng có một người nào bởi việc làm theo luật pháp mà được kể là công chính trước mặt Ngài, vì nhờ luật pháp người ta nhận biết tội lỗi.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

20vì không người nào nhờ vâng giữ Luật Pháp mà được kể là công chính trước mặt Ngài, bởi Luật Pháp giúp người ta biết thế nào là tội lỗi.

Bản Dịch Mới (NVB)

20Vì không một cá nhân nào do việc làm theo kinh luật được xưng công chính trước mặt Ngài, vì qua kinh luật người ta nhận biết rõ được tội lỗi.

Bản Phổ Thông (BPT)

20vì không ai nhờ tuân theo luật pháp mà được hòa thuận lại với Thượng Đế cả. Luật pháp chỉ cho chúng ta biết tội lỗi thôi.

New International Version (NIV)

21But now apart from the law the righteousness of God has been made known, to which the Law and the Prophets testify.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

21Nhưng hiện bây giờ, sự công bình của Đức Chúa Trời, mà luật pháp và các đấng tiên tri đều làm chứng cho, đã bày tỏ ra ngoài luật pháp:

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

21Nhưng bây giờ, sự công chính của Đức Chúa Trời đã được bày tỏ ngoài luật pháp. Điều nầy đã được luật pháp và các nhà tiên tri làm chứng.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

21Tuy nhiên hiện nay sự công chính của Ðức Chúa Trời đã được thể hiện độc lập với Luật Pháp, nhưng được Luật Pháp và Các Tiên Tri làm chứng cho.

Bản Dịch Mới (NVB)

21Nhưng ngày nay, không cậy vào kinh luật, sự công chính của Đức Chúa Trời mà kinh luật và các tiên tri làm chứng đã được bày tỏ ra,

Bản Phổ Thông (BPT)

21Nhưng Thượng Đế đã cho chúng ta phương cách hòa thuận lại với Ngài, mà không qua luật pháp. Phương cách ấy đã được luật pháp và các nhà tiên tri dạy chúng ta.

New International Version (NIV)

22This righteousness is given through faith in Jesus Christ to all who believe. There is no difference between Jew and Gentile,

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

22tức là sự công bình của Đức Chúa Trời, bởi sự tin đến Đức Chúa Jêsus Christ, cho mọi người nào tin. Chẳng có phân biệt chi hết,

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

22Đó là sự công chính của Đức Chúa Trời, bởi đức tin nơi Đức Chúa Jêsus Christ, ban cho mọi người có lòng tin, không phân biệt ai cả;

Bản Dịch 2011 (BD2011)

22Tất cả những ai có lòng tin đều được kể là công chính trước mặt Ðức Chúa Trời, vì đã tin vào Ðức Chúa Jesus Christ, không phân biệt người nào,

Bản Dịch Mới (NVB)

22tức là sự công chính của Đức Chúa Trời nhờ đức tin nơi Chúa Cứu Thế Giê-su, ban cho mọi người tin, không phân biệt ai cả;

Bản Phổ Thông (BPT)

22Ngài khiến con người hòa thuận lại với Ngài qua đức tin vào Chúa Cứu Thế Giê-xu. Hễ ai tin Chúa Cứu Thế đều được hòa thuận với Thượng Đế, vì mọi người đều đồng một tình trạng:

New International Version (NIV)

23for all have sinned and fall short of the glory of God,

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

23vì mọi người đều đã phạm tội, thiếu mất sự vinh hiển của Đức Chúa Trời,

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

23vì mọi người đều đã phạm tội, thiếu mất vinh quang của Đức Chúa Trời;

Bản Dịch 2011 (BD2011)

23vì mọi người đều đã phạm tội, thiếu mất vinh hiển của Ðức Chúa Trời.

Bản Dịch Mới (NVB)

23vì mọi người đều đã phạm tội, thiếu mất vinh quang của Đức Chúa Trời,

Bản Phổ Thông (BPT)

23Mọi người đều phạm tội, không đáng hưởng vinh hiển của Thượng Đế.

New International Version (NIV)

24and all are justified freely by his grace through the redemption that came by Christ Jesus.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

24và họ nhờ ân điển Ngài mà được xưng công bình nhưng không, bởi sự chuộc tội đã làm trọn trong Đức Chúa Jêsus Christ,

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

24nhờ ân điển Ngài, bởi sự cứu chuộc trong Đấng Christ Jêsus, họ được xưng công chính mà không phải trả một giá nào.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

24Nhờ ân sủng Ngài ban, chúng ta không phải trả một giá nào, mà được xưng công chính, nhờ sự cứu chuộc đã thực hiện trong Ðức Chúa Jesus Christ.

Bản Dịch Mới (NVB)

24nhờ ân sủng của Ngài và sự cứu chuộc trong Chúa Cứu Thế Giê-su họ được xưng công chính mà không phải trả một giá nào.

Bản Phổ Thông (BPT)

24Mọi người phải hòa thuận lại với Ngài qua ân phúc của Ngài, đó là một quà tặng từ Thượng Đế. Qua Chúa Cứu Thế Giê-xu, loài người được tha tội.

New International Version (NIV)

25God presented Christ as a sacrifice of atonement, through the shedding of his blood—to be received by faith. He did this to demonstrate his righteousness, because in his forbearance he had left the sins committed beforehand unpunished—

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

25là Đấng Đức Chúa Trời đã lập làm của lễ chuộc tội, bởi đức tin trong huyết Đấng ấy. Ngài đã bày tỏ sự công bình mình như vậy, vì đã bỏ qua các tội phạm trước kia,

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

25Đức Chúa Trời đã lập Ngài làm sinh tế chuộc tội cho những ai có đức tin trong huyết Ngài. Việc nầy bày tỏ sự công chính của Đức Chúa Trời, vì Ngài lấy lòng nhẫn nhục mà bỏ qua những tội lỗi trong quá khứ.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

25Ðức Chúa Trời đã lập Ðấng Christ làm con vật hiến tế chuộc tội, hầu khi chúng ta tin vào huyết của Ðấng Christ, Ngài có thể nguôi cơn giận của Ngài. Ðức Chúa Trời đã bày tỏ đức công chính của Ngài, khi Ngài bỏ qua những tội lỗi loài người vi phạm trước kia, nhờ ơn chịu đựng vô lượng của Ngài;

Bản Dịch Mới (NVB)

25Đức Chúa Trời, bởi huyết của Chúa Cứu Thế Giê-su đã lập Ngài làm sinh tế chuộc tội cho mọi người tin. Như vậy Đức Chúa Trời đã tỏ ra sự công chính của Ngài bởi lòng khoan nhẫn, bỏ qua những tội phạm trong quá khứ,

Bản Phổ Thông (BPT)

25Thượng Đế đã hi sinh mạng sống Chúa Giê-xu để con người được xóa tội, nhờ tin vào sự chết của Ngài. Thượng Đế làm như thế để tỏ ra sự công chính của Ngài, như xưa kia Ngài bỏ qua tội lỗi mà con người đã phạm.

New International Version (NIV)

26he did it to demonstrate his righteousness at the present time, so as to be just and the one who justifies those who have faith in Jesus.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

26trong buổi Ngài nhịn nhục; tức là Ngài đã tỏ sự công bình Ngài trong thời hiện tại, tỏ ra mình là công bình và xưng công bình kẻ nào tin đến Đức Chúa Jêsus.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

26Trong hiện tại, Ngài cũng chứng tỏ chính Ngài là công chính và xưng công chính cho người nào đặt lòng tin nơi Đức Chúa Jêsus.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

26hiện nay Ngài cũng bày tỏ đức công chính của Ngài khi Ngài, Ðấng công chính, xưng công chính cho những người tin nhận Ðức Chúa Jesus.

Bản Dịch Mới (NVB)

26Ngài cũng bày tỏ ra sự công chính của Ngài trong hiện tại, chứng tỏ Ngài là công chính ngay trong việc xưng công chính người nào đặt lòng tin nơi Đức Giê-su.

Bản Phổ Thông (BPT)

26Ngày nay Thượng Đế đã ban Chúa Giê-xu để chứng tỏ điều Ngài làm là đúng. Như vậy, Ngài có thể xét xử công bình và hòa thuận lại với người nào đặt niềm tin mình nơi Chúa Giê-xu.

New International Version (NIV)

27Where, then, is boasting? It is excluded. Because of what law? The law that requires works? No, because of the law that requires faith.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

27Vậy thì sự khoe mình ở đâu? Đã bị trừ bỏ rồi. Bởi luật pháp nào? Luật pháp của việc làm chăng? Không phải, nhưng bởi luật pháp của đức tin;

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

27Vậy thì có gì để khoe khoang không? Không có gì để khoe khoang cả. Dựa vào luật nào? Luật của việc làm chăng? Không phải, nhưng dựa vào luật của đức tin.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

27Vậy chúng ta tự hào ở điểm nào? Chúng ta chẳng có gì để tự hào cả.Chúng ta tự hào vì cậy vào Luật Pháp chăng? Hoặc cậy vào việc làm chăng? Hoàn toàn không. Nhưng chúng ta chỉ cậy vào luật của đức tin,

Bản Dịch Mới (NVB)

27Vậy sự khoe khoang ở đâu? Hoàn toàn bị loại rồi. Bởi luật nào? Luật của việc làm công đức phải không? Không phải, nhưng bởi luật của đức tin.

Bản Phổ Thông (BPT)

27Thế thì chúng ta có lý do gì để tự khoe hay không?—Không! Tại sao? Vì con đường đức tin khiến cho chẳng còn ai có thể tự khoe như khi họ nhờ con đường vâng giữ luật pháp.

New International Version (NIV)

28For we maintain that a person is justified by faith apart from the works of the law.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

28vì chúng ta kể rằng người ta được xưng công bình bởi đức tin, chớ không bởi việc làm theo luật pháp.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

28Vì chúng ta tin rằng một người được xưng công chính bởi đức tin chứ không phải bởi việc làm theo luật pháp.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

28vì chúng ta tin rằng một người có thể được xưng công chính nhờ đức tin mà không cần phải làm những việc Luật Pháp đòi hỏi.

Bản Dịch Mới (NVB)

28Vì chúng ta khẳng định rằng loài người được xưng công chính bởi đức tin chứ không bởi việc làm theo kinh luật.

Bản Phổ Thông (BPT)

28Con người được hòa thuận lại với Thượng Đế nhờ đức tin, chứ không phải nhờ vâng giữ luật pháp.

New International Version (NIV)

29Or is God the God of Jews only? Is he not the God of Gentiles too? Yes, of Gentiles too,

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

29Hay là, Đức Chúa Trời chỉ là Đức Chúa Trời của dân Giu-đa sao? Há chẳng phải cũng là Đức Chúa Trời của dân ngoại ư? Phải, Ngài cũng là của dân ngoại nữa;

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

29Phải chăng Đức Chúa Trời chỉ là Đức Chúa Trời của dân Do Thái thôi? Chẳng phải Ngài cũng là Đức Chúa Trời của dân ngoại nữa sao? Phải, Ngài cũng là Đức Chúa Trời của dân ngoại nữa;

Bản Dịch 2011 (BD2011)

29Ðức Chúa Trời nào phải là của người Do-thái thôi sao? Ngài không phải là Ðức Chúa Trời của các dân ngoại nữa sao?Vâng, Ngài cũng là Ðức Chúa Trời của các dân ngoại nữa.

Bản Dịch Mới (NVB)

29Hay Đức Chúa Trời chỉ là của người Do Thái mà không phải của các dân tộc khác? Không, Ngài là Đức Chúa Trời của người ngoại quốc nữa.

Bản Phổ Thông (BPT)

29Có phải Thượng Đế chỉ là Thượng Đế của người Do-thái mà thôi hay Ngài cũng là Thượng Đế của những người không phải Do-thái nữa? Dĩ nhiên Ngài cũng là Thượng Đế của người không phải Do-thái nữa

New International Version (NIV)

30since there is only one God, who will justify the circumcised by faith and the uncircumcised through that same faith.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

30vì chỉ có một Đức Chúa Trời, là Đấng làm cho kẻ chịu cắt bì được xưng công bình bởi đức tin, cũng làm cho kẻ không chịu cắt bì được xưng công bình bởi đức tin nữa.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

30vì Đức Chúa Trời là một, là Đấng sẽ làm cho người chịu cắt bì được xưng công chính bởi đức tin, cũng làm cho người không chịu cắt bì được xưng công chính bởi đức tin nữa.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

30Vậy chỉ có một Ðức Chúa Trời, Ðấng sẽ cho những người được cắt bì được xưng công chính bởi đức tin, và cũng sẽ cho những người không được cắt bì được xưng công chính bởi đức tin.

Bản Dịch Mới (NVB)

30Vì Đức Chúa Trời là một, Ngài sẽ tuyên xưng công chính những người chịu cắt bì bởi đức tin, và tuyên xưng công chính những người không cắt bì cũng bởi đức tin.

Bản Phổ Thông (BPT)

30vì chỉ có một Thượng Đế duy nhất thôi. Nếu Ngài đã làm cho người Do-thái hòa thuận lại với Ngài qua đức tin của họ, thì Ngài cũng sẽ khiến cho mọi người không phải Do-thái hòa thuận lại với Ngài qua đức tin của họ.

New International Version (NIV)

31Do we, then, nullify the law by this faith? Not at all! Rather, we uphold the law.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

31Vậy, chúng ta nhân đức tin mà bỏ luật pháp hay sao? Chẳng hề như vậy! Trái lại, chúng ta làm vững bền luật pháp.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

31Vậy, chúng ta vì đức tin mà loại bỏ luật pháp hay sao? Không hề như vậy! Ngược lại, chúng ta làm vững bền luật pháp.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

31Thế thì chúng ta dựa vào đức tin mà phế bỏ Luật Pháp chăng?Chẳng hề như vậy! Ngược lại, chúng ta củng cố giá trị của Luật Pháp.

Bản Dịch Mới (NVB)

31Vậy qua đức tin chúng ta phế bỏ kinh luật sao? Chẳng phải vậy, nhưng ngược lại chúng ta làm vững kinh luật.

Bản Phổ Thông (BPT)

31Thế thì có phải chúng ta đã phá bỏ luật pháp qua con đường đức tin không? Không phải! Trái lại, nhờ đức tin chúng ta làm cho luật pháp thêm vững chắc.