So Sánh Bản Dịch(Tối đa 6 bản dịch)


New International Version(NIV)

Bản Truyền Thống 1926(VI1934)

Bản Hiệu Đính Truyền Thống(RVV11)

Bản Dịch 2011(BD2011)

Bản Dịch Mới(NVB)

Bản Phổ Thông(BPT)

New International Version (NIV)

1Paul, a servant of Christ Jesus, called to be an apostle and set apart for the gospel of God—

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

1Phao-lô, tôi tớ của Đức Chúa Jêsus Christ, được gọi làm sứ đồ, để riêng ra đặng giảng Tin lành Đức Chúa Trời, ---

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

1Phao-lô, đầy tớ của Đấng Christ Jêsus, được kêu gọi làm sứ đồ và được biệt riêng cho Tin Lành của Đức Chúa Trời,

Bản Dịch 2011 (BD2011)

1Phao-lô, đầy tớ của Ðức Chúa Jesus Christ, được kêu gọi làm sứ đồ, được biệt riêng để rao truyền Tin Mừng của Ðức Chúa Trời,

Bản Dịch Mới (NVB)

1Tôi là Phao-lô, tôi tớ của Chúa Cứu Thế Giê-su, được kêu gọi làm sứ đồ và biệt riêng ra để truyền bá Phúc Âm của Đức Chúa Trời. Kính gởi tất cả các thánh đồ, là những người được Đức Chúa Trời yêu dấu tại Rô-ma.

Bản Phổ Thông (BPT)

1Phao-lô, tôi tớ của Chúa Cứu Thế Giê-xu, được Thượng Đế gọi làm sứ đồ và được chọn rao Tin Mừng của Ngài cho mọi người.

New International Version (NIV)

2the gospel he promised beforehand through his prophets in the Holy Scriptures

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

2là Tin lành xưa kia Đức Chúa Trời đã dùng các đấng tiên tri Ngài mà hứa trong Kinh thánh,

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

2là Tin Lành mà Đức Chúa Trời phán hứa từ trước qua các nhà tiên tri của Ngài trong Kinh Thánh.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

2là Tin Mừng đã được hứa từ trước qua các vị tiên tri của Ngài trong Kinh Thánh,

Bản Dịch Mới (NVB)

2Phúc Âm này là về Con Ngài đã hứa từ trước qua các tiên tri của Ngài trong Kinh Thánh,

Bản Phổ Thông (BPT)

2Từ xưa, qua các nhà tiên tri của Ngài, Thượng Đế đã hứa ban Tin Mừng theo Thánh Kinh viết.

New International Version (NIV)

3regarding his Son, who as to his earthly life was a descendant of David,

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

3về Con Ngài, theo xác thịt thì bởi dòng dõi vua Đa-vít sanh ra,

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

3Ấy là Tin Lành về Con Ngài, là Đấng mà về mặt thể xác được sinh ra từ dòng vua Đa-vít;

Bản Dịch 2011 (BD2011)

3liên quan đến Con Ngài, mà về phương diện phàm nhân được sinh ra từ dòng dõi Vua Ða-vít,

Bản Dịch Mới (NVB)

3là Đấng về thể xác thì ra từ dòng dõi vua Đa-vít,

Bản Phổ Thông (BPT)

3-4Tin Mừng về Con Thượng Đế: Đấng Cứu Thế Giê-xu, Chúa chúng ta. Về bản chất loài người, Ngài được sinh trong dòng họ vua Đa-vít nhưng qua Thánh Linh, Ngài được chỉ định làm Con Thượng Đế, với quyền năng cao cả, chứng tỏ bằng việc Ngài sống lại từ kẻ chết.

New International Version (NIV)

4and who through the Spirit of holiness was appointed the Son of God in power by his resurrection from the dead: Jesus Christ our Lord.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

4theo thần linh của thánh đức, thì bởi sự sống lại của Ngài từ trong kẻ chết, được tỏ ra là Con Đức Chúa Trời có quyền phép, tức là Đức Chúa Jêsus Christ, Chúa chúng ta,

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

4về thần linh thánh khiết, thì bởi sự sống lại của Ngài từ cõi chết, được tuyên xưng là Con Đức Chúa Trời quyền năng, là Đức Chúa Jêsus Christ Chúa chúng ta.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

4còn về phương diện thần thánh được xác chứng là Con Ðức Chúa Trời đầy quyền năng qua sự sống lại từ cõi chết, đó là Ðức Chúa Jesus Christ, Chúa chúng ta,

Bản Dịch Mới (NVB)

4về tâm linh thánh khiết thì được tuyên bố là Con quyền năng của Đức Chúa Trời bởi sự sống lại từ cõi chết, đó là Chúa Cứu Thế Giê-su, Chúa chúng ta;

Bản Phổ Thông (BPT)

3-4Tin Mừng về Con Thượng Đế: Đấng Cứu Thế Giê-xu, Chúa chúng ta. Về bản chất loài người, Ngài được sinh trong dòng họ vua Đa-vít nhưng qua Thánh Linh, Ngài được chỉ định làm Con Thượng Đế, với quyền năng cao cả, chứng tỏ bằng việc Ngài sống lại từ kẻ chết.

New International Version (NIV)

5Through him we received grace and apostleship to call all the Gentiles to the obedience that comes from faith for his name’s sake.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

5nhờ Ngài chúng ta đã nhận lãnh ân điển và chức sứ đồ, để đem mọi dân ngoại đến sự vâng phục của đức tin, vì danh Ngài,

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

5Nhờ Ngài, chúng tôi đã nhận ân điển và chức sứ đồ, để vì danh Ngài đem mọi dân tộc đến sự vâng phục do đức tin.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

5qua Ngài chúng tôi nhận được ân sủng và chức vụ sứ đồ để vì danh Ngài dẫn dắt mọi dân tin thờ Chúa và vâng phục Ngài,

Bản Dịch Mới (NVB)

5nhờ Ngài chúng tôi nhận được ân sủng và chức sứ đồ để vì danh Ngài đem mọi dân tộc đến sự tùng phục dựa trên đức tin;

Bản Phổ Thông (BPT)

5Qua Chúa Cứu Thế, Thượng Đế đã giao cho tôi nhiệm vụ đặc biệt của một sứ đồ, để đưa dẫn mọi người trên thế giới trở lại tin nhận và vâng phục Chúa. Tôi làm công tác nầy vì Ngài.

New International Version (NIV)

6And you also are among those Gentiles who are called to belong to Jesus Christ.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

6trong các dân ấy anh em cũng đã được gọi bởi Đức Chúa Jêsus Christ; ---

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

6Anh em cũng ở trong số những người được kêu gọi để thuộc về Đức Chúa Jêsus Christ.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

6trong đó có anh chị em, những người được gọi để thuộc về Ðức Chúa Jesus Christ,

Bản Dịch Mới (NVB)

6trong số những người được kêu gọi thuộc về Chúa Cứu Thế Giê-su cũng có anh chị em nữa.

Bản Phổ Thông (BPT)

6Còn quí anh chị em ở La-mã cũng được kêu gọi để thuộc riêng về Ngài.

New International Version (NIV)

7To all in Rome who are loved by God and called to be his holy people: Grace and peace to you from God our Father and from the Lord Jesus Christ.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

7gởi cho hết thảy những người yêu dấu của Đức Chúa Trời tại thành Rô-ma, được gọi làm thánh đồ. Nguyền cho anh em được ân điển và sự bình an từ nơi Đức Chúa Trời, Cha chúng ta, và từ nơi Đức Chúa Jêsus Christ!

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

7Tôi kính gửi đến tất cả những người yêu dấu của Đức Chúa Trời tại thành Rô-ma, là những người được gọi làm thánh đồ.Cầu xin Đức Chúa Trời, Cha chúng ta, và Chúa là Đức Chúa Jêsus Christ ban ân điển và bình an cho anh em!

Bản Dịch 2011 (BD2011)

7kính gởi tất cả những người được Ðức Chúa Trời yêu thương, được gọi làm thánh đồ ở Rô-ma. Nguyện ân sủng và bình an từ Ðức Chúa Trời, Cha chúng ta, và từ Ðức Chúa Jesus Christ, là Chúa, đến cùng anh chị em.

Bản Dịch Mới (NVB)

7Nguyện xin Đức Chúa Trời, Cha chúng ta và Chúa Cứu Thế Giê-su ban ân sủng và bình an cho anh chị em.

Bản Phổ Thông (BPT)

7Kính gởi: Anh chị em ở La-mã là người đã được Thượng Đế yêu thương và kêu gọi để trở thành dân thánh của Ngài.Cầu chúc anh chị em nhận được ân phúc và bình an từ Thượng Đế, Cha chúng ta và từ Chúa Cứu Thế Giê-xu.

New International Version (NIV)

8First, I thank my God through Jesus Christ for all of you, because your faith is being reported all over the world.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

8Trước hết, tôi nhờ Đức Chúa Jêsus Christ, vì hết thảy anh em mà tạ ơn Đức Chúa Trời tôi về đức tin anh em đã đồn khắp cả thế gian.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

8Trước hết, nhờ Đức Chúa Jêsus Christ, tôi tạ ơn Đức Chúa Trời tôi về tất cả anh em, vì đức tin anh em đã được đồn khắp thế giới.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

8Trước hết, nhờ Ðức Chúa Jesus Christ, tôi cảm tạ Ðức Chúa Trời của tôi về tất cả anh chị em, vì đức tin của anh chị em đã được truyền tụng khắp thế giới.

Bản Dịch Mới (NVB)

8Trước hết, nhờ Chúa Cứu Thế Giê-su tôi tạ ơn Đức Chúa Trời tôi về hết thảy anh chị em vì đức tin anh chị em được đồn khắp thế giới.

Bản Phổ Thông (BPT)

8Trước hết tôi cảm tạ Thượng Đế tôi, qua Chúa Cứu Thế Giê-xu về tất cả anh chị em, vì khắp nơi ai nấy đều ca ngợi đức tin anh chị em.

New International Version (NIV)

9God, whom I serve in my spirit in preaching the gospel of his Son, is my witness how constantly I remember you

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

9Vì Đức Chúa Trời mà tôi lấy tâm thần hầu việc, bởi sự giảng Tin lành của Con Ngài, làm chứng cho tôi rằng tôi nhắc đến anh em không thôi

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

9Đức Chúa Trời, Đấng mà tôi hết lòng phục vụ qua việc rao giảng Tin Lành về Con Ngài, làm chứng cho tôi rằng tôi luôn nhắc đến anh em

Bản Dịch 2011 (BD2011)

9Vì Ðức Chúa Trời, Ðấng tôi phục vụ với tất cả tâm hồn trong việc rao truyền Tin Mừng về Con Ngài, có thể làm chứng cho tôi rằng tôi hằng nhắc đến anh chị em trong khi cầu nguyện.

Bản Dịch Mới (NVB)

9Vì Đức Chúa Trời, Đấng tôi hết lòng phụng sự trong việc rao giảng Phúc Âm về Con Ngài, chứng giám cho tôi rằng

Bản Phổ Thông (BPT)

9Thượng Đế, Đấng mà tôi hết lòng phục vụ bằng cách rao truyền Tin Mừng về Con Ngài, biết rằng tôi luôn luôn nhắc đến anh chị em

New International Version (NIV)

10in my prayers at all times; and I pray that now at last by God’s will the way may be opened for me to come to you.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

10trong mọi khi tôi cầu nguyện, thường xin Đức Chúa Trời, bởi ý muốn Ngài, sau lại có thể gặp dịp tiện đi đến nơi anh em.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

10mỗi khi cầu nguyện. Tôi nài xin Đức Chúa Trời, bởi ý muốn Ngài, mở đường cho tôi có dịp đến với anh em.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

10Tôi luôn cầu xin rằng nếu đẹp ý Ðức Chúa Trời, xin Ngài mở đường cho tôi đến thăm anh chị em.

Bản Dịch Mới (NVB)

10tôi không ngớt nhắc đến anh chị em mỗi khi cầu nguyện, nài xin Đức Chúa Trời giờ đây thuận ý cho tôi có lúc nào đó được dịp tiện đến cùng anh chị em.

Bản Phổ Thông (BPT)

10mỗi khi cầu nguyện. Tôi cầu xin được đến thăm anh chị em và nếu đẹp ý Thượng Đế, thì việc ấy sẽ thành.

New International Version (NIV)

11I long to see you so that I may impart to you some spiritual gift to make you strong—

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

11Thật vậy, tôi rất mong mỏi đến thăm anh em, đặng thông đồng sự ban cho thiêng liêng cùng anh em, hầu cho anh em được vững vàng,

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

11Vì tôi rất mong đến thăm anh em để chia sẻ với anh em sự ban cho thiêng liêng, nhờ đó anh em được vững mạnh;

Bản Dịch 2011 (BD2011)

11Vì tôi rất mong được gặp anh chị em để có thể chia sẻ với anh chị em một số ơn phước thuộc linh, hầu làm vững mạnh đức tin của anh chị em,

Bản Dịch Mới (NVB)

11Vì tôi mong mỏi gặp anh chị em để chia sẻ cho anh chị em linh ân nhằm gây dựng anh chị em

Bản Phổ Thông (BPT)

11Tôi rất muốn gặp gỡ anh chị em để dùng những ân tứ thuộc linh tôi có mà giúp anh chị em lớn mạnh hơn.

New International Version (NIV)

12that is, that you and I may be mutually encouraged by each other’s faith.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

12tức là tôi ở giữa anh em, để chúng ta cùng nhau giục lòng mạnh mẽ bởi đức tin chung của chúng ta, nghĩa là của anh em và của tôi.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

12nghĩa là để chúng ta có thể khích lệ nhau bằng đức tin của chúng ta, tức là của anh em và của tôi.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

12tức là khi tôi được ở giữa anh chị em, chúng ta có thể khích lệ đức tin lẫn nhau, tức đức tin của anh chị em và đức tin của tôi.

Bản Dịch Mới (NVB)

12nghĩa là để chúng ta cùng khuyến khích nhau bởi đức tin của anh chị em và của tôi.

Bản Phổ Thông (BPT)

12Tôi muốn mỗi người trong chúng ta nên giúp đỡ lẫn nhau, theo đức tin mình có. Đức tin anh chị em sẽ khích lệ tôi, ngược lại, đức tin tôi sẽ khích lệ anh chị em.

New International Version (NIV)

13I do not want you to be unaware, brothers and sisters, that I planned many times to come to you (but have been prevented from doing so until now) in order that I might have a harvest among you, just as I have had among the other Gentiles.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

13Vả, hỡi anh em, tôi chẳng muốn anh em không biết rằng đã ghe phen tôi toan đi thăm anh em, đặng hái trái trong anh em cũng như trong dân ngoại khác; song về sự đó tôi bị ngăn trở cho đến bây giờ.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

13Thưa anh em, tôi muốn anh em biết rằng đã nhiều lần tôi định đến thăm anh em để gặt hái ít nhiều bông trái trong anh em, cũng như trong các dân ngoại khác; nhưng cho đến nay vẫn còn bị ngăn trở.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

13Thưa anh chị em, tôi muốn anh chị em biết rằng, tôi đã định đến thăm anh chị em nhiều lần, để có thể gặt hái những kết quả giữa anh chị em như tôi đã gặt hái giữa các dân ngoại khác, nhưng lần nào tôi cũng gặp trở ngại.

Bản Dịch Mới (NVB)

13Hỡi anh chị em, tôi không muốn anh chị em chẳng biết rằng đã bao lần tôi toan tính đến cùng anh chị em, để gặt hái ít nhiều bông trái giữa vòng anh chị em cũng như giữa vòng người ngoại quốc khác vậy, nhưng đều bị ngăn trở cho đến bây giờ.

Bản Phổ Thông (BPT)

13Thưa anh chị em, tôi muốn anh chị em biết rằng, nhiều lần tôi dự định đến thăm các anh chị em nhưng chưa được. Tôi muốn thăm để giúp các anh chị em lớn lên về mặt tâm linh như tôi đã giúp các người ngoại quốc khác.

New International Version (NIV)

14I am obligated both to Greeks and non-Greeks, both to the wise and the foolish.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

14Tôi mắc nợ cả người Gờ-réc lẫn người dã man, cả người thông thái lẫn người ngu dốt.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

14Tôi mắc nợ cả người Hi Lạp lẫn người bán khai, cả người thông thái lẫn người dốt nát.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

14Tôi mắc nợ cả người Hy-lạp lẫn người man rợ, cả người thông thái lẫn người khờ dại.

Bản Dịch Mới (NVB)

14Tôi mắc nợ cả người văn minh lẫn người lạc hậu, cả người thông thái lẫn người dốt nát.

Bản Phổ Thông (BPT)

14Tôi mang nặng một nghĩa vụ đối với mọi người—từ người Hi-lạp hay không phải Hi-lạp, người khôn ngoan cũng như người ngu dốt.

New International Version (NIV)

15That is why I am so eager to preach the gospel also to you who are in Rome.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

15Ấy vậy, hễ thuộc về tôi, thì tôi cũng sẵn lòng rao Tin lành cho anh em, là người ở thành Rô-ma.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

15Vì vậy, tôi cũng tha thiết được rao giảng Tin Lành cho anh em, là những người đang sống ở Rô-ma nữa.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

15Vì thế tôi nóng lòng muốn giảng Tin Mừng cho anh chị em, những người ở Rô-ma.

Bản Dịch Mới (NVB)

15Vì thế tôi cũng nóng lòng đến giảng Phúc Âm cho anh chị em là những người ở Rô-ma nữa.

Bản Phổ Thông (BPT)

15Vì thế mà tôi rất muốn rao truyền Tin Mừng cho quí anh chị em là người La-mã.

New International Version (NIV)

16For I am not ashamed of the gospel, because it is the power of God that brings salvation to everyone who believes: first to the Jew, then to the Gentile.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

16Thật vậy, tôi không hổ thẹn về Tin lành đâu, vì là quyền phép của Đức Chúa Trời để cứu mọi kẻ tin, trước là người Giu-đa, sau là người Gờ-réc;

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

16Thật vậy, tôi không hổ thẹn về Tin Lành đâu, vì đây là quyền năng của Đức Chúa Trời để cứu mọi người tin, trước là người Do Thái, sau là người Hi Lạp.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

16Thật vậy tôi không hổ thẹn về Tin Mừng, vì đó là quyền năng của Ðức Chúa Trời để cứu mọi người có lòng tin, trước là người Do-thái, sau là người Hy-lạp.

Bản Dịch Mới (NVB)

16Thật vậy, tôi không hổ thẹn về Phúc Âm vì đây là quyền năng của Đức Chúa Trời để cứu mọi người tin, trước là người Do Thái và sau là người Hy Lạp.

Bản Phổ Thông (BPT)

16Tôi rất hãnh diện về Tin Mừng nầy, vì là quyền năng của Thượng Đế để cứu những ai tin—trước hết là người Do-thái rồi đến những người không phải Do-thái.

New International Version (NIV)

17For in the gospel the righteousness of God is revealed—a righteousness that is by faith from first to last, just as it is written: “The righteous will live by faith.”

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

17vì trong Tin lành nầy có bày tỏ sự công bình của Đức Chúa Trời, bởi đức tin mà được, lại dẫn đến đức tin nữa, như có chép rằng: Người công bình sẽ sống bởi đức tin.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

17Vì trong Tin Lành nầy, sự công chính của Đức Chúa Trời được bày tỏ từ đức tin đến đức tin, như có lời chép: “Người công chính sẽ sống bởi đức tin.”

Bản Dịch 2011 (BD2011)

17Vì trong Tin Mừng ấy, sự công chính của Ðức Chúa Trời đã được biểu lộ, từ đức tin đến đức tin, như có chép rằng, “Người công chính sẽ sống bởi đức tin.”

Bản Dịch Mới (NVB)

17Vì trong Phúc Âm ấy sự công chính của Đức Chúa Trời được tỏ ra từ đức tin đến đức tin như Kinh Thánh chép: “Này, người công chính sẽ sống bởi đức tin.”

Bản Phổ Thông (BPT)

17Tin Mừng ấy cho thấy Thượng Đế giúp cho con người hòa thuận lại với Ngài—bắt đầu và kết thúc đều qua đức tin. Như Thánh Kinh viết, “Những ai đã hòa thuận lại với Ngài sẽ sống mãi bằng đức tin.”

New International Version (NIV)

18The wrath of God is being revealed from heaven against all the godlessness and wickedness of people, who suppress the truth by their wickedness,

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

18Vả, cơn giận của Đức Chúa Trời từ trên trời tỏ ra nghịch cùng mọi sự không tin kính và mọi sự không công bình của những người dùng sự không công bình mà bắt hiếp lẽ thật.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

18Cơn thịnh nộ của Đức Chúa Trời từ trên trời được tỏ bày để chống lại mọi sự vô luân và gian ác của những kẻ dùng sự gian ác mà áp chế chân lý.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

18Cơn thịnh nộ của Ðức Chúa Trời từ trời đã biểu lộ để trừng phạt mọi hình thức vô luân và gian ác của những kẻ dùng những biện pháp gian ác đàn áp sự thật.

Bản Dịch Mới (NVB)

18Vì cơn thịnh nộ của Đức Chúa Trời đã bộc lộ từ trời nghịch lại mọi hình thức không tôn kính Đức Chúa Trời và bất chính của những người lấy bất chính áp chế sự thật.

Bản Phổ Thông (BPT)

18Cơn giận của Thượng Đế từ trời đã tỏ ra để chống lại mọi điều ác và trái phép mà con người làm. Qua nếp sống độc ác của họ, con người đã che giấu sự thật.

New International Version (NIV)

19since what may be known about God is plain to them, because God has made it plain to them.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

19Vì điều chi có thể biết được về Đức Chúa Trời thì đã trình bày ra cho họ, Đức Chúa Trời đã tỏ điều đó cho họ rồi,

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

19Vì những gì người ta có thể biết về Đức Chúa Trời thì đã rõ ràng, bởi Đức Chúa Trời đã bày tỏ cho họ rồi.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

19Vì những gì con người có thể biết về Ðức Chúa Trời đã được bày tỏ cho họ rồi, bởi Ðức Chúa Trời đã bày tỏ cho họ.

Bản Dịch Mới (NVB)

19Bởi những gì có thể biết về Đức Chúa Trời đều rõ ràng đối với họ vì Đức Chúa Trời đã tỏ bày cho họ rồi.

Bản Phổ Thông (BPT)

19Thượng Đế nổi giận, vì những gì họ cần biết về Thượng Đế thì đã trình bày rõ ràng cho họ. Chính Thượng Đế đã phơi bày những điều ấy ra cho họ.

New International Version (NIV)

20For since the creation of the world God’s invisible qualities—his eternal power and divine nature—have been clearly seen, being understood from what has been made, so that people are without excuse.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

20bởi những sự trọn lành của Ngài mắt không thấy được, tức là quyền phép đời đời và bổn tánh Ngài, thì từ buổi sáng thế vẫn sờ sờ như mắt xem thấy, khi người ta xem xét công việc của Ngài. Cho nên họ không thể chữa mình được,

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

20Những gì về Đức Chúa Trời mà mắt trần không thấy được, tức là quyền năng đời đời và thần tính của Ngài, thì ngay từ buổi sáng thế người ta đã nhận thức rõ ràng khi quan sát các tạo vật của Ngài; cho nên họ không thể bào chữa được.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

20Thật vậy từ khi dựng nên trời đất, qua những gì đã được dựng nên, con người đã thấy rõ và nhận biết những gì không thấy được về Ngài, như quyền năng đời đời và thần tính của Ngài, vì thế họ không còn lý do để bào chữa.

Bản Dịch Mới (NVB)

20Vì những gì của Đức Chúa Trời mà mắt trần không thấy được, kể cả quyền năng vĩnh cửu lẫn thần tính của Ngài, thì từ thuở sáng tạo vũ trụ đã được thấy rõ nhờ nhận thức về các tạo vật, nên họ không còn cách nào bào chữa được.

Bản Phổ Thông (BPT)

20Có nhiều điều về Thượng Đế mà con người không thể thấy—chẳng hạn như quyền năng vô hạn và thiên tính của Ngài. Nhưng từ thuở tạo thiên lập địa, hai đặc tính nầy đều sờ sờ ra đó và ai cũng hiểu được. Cho nên họ không có lý do gì để bào chữa về những việc làm xấu xa của mình.

New International Version (NIV)

21For although they knew God, they neither glorified him as God nor gave thanks to him, but their thinking became futile and their foolish hearts were darkened.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

21vì họ dẫu biết Đức Chúa Trời, mà không làm sáng danh Ngài là Đức Chúa Trời, và không tạ ơn Ngài nữa; song cứ lầm lạc trong lý tưởng hư không, và lòng ngu dốt đầy những sự tối tăm.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

21Vì mặc dù đã biết Đức Chúa Trời, họ vẫn không chịu tôn cao Ngài là Đức Chúa Trời và không tạ ơn Ngài, nhưng cứ suy luận viển vông; lòng dạ ngu muội của họ trở nên tăm tối.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

21Vì dù họ đã biết Ðức Chúa Trời, họ vẫn không chịu tôn vinh Ngài là Ðức Chúa Trời và biết ơn Ngài; ngược lại, đầu óc họ cứ suy luận viển vông, tâm trí điên rồ của họ đã trở nên u tối.

Bản Dịch Mới (NVB)

21Vì họ đã biết Đức Chúa Trời nhưng không tôn vinh cảm tạ Ngài là Đức Chúa Trời, trái lại họ suy tưởng những chuyện hư không và lòng dạ ngu dốt của họ ra tăm tối.

Bản Phổ Thông (BPT)

21Họ đã biết Thượng Đế, nhưng không chịu tôn kính hoặc tạ ơn Ngài. Tư tưởng họ thật vô dụng. Trí óc họ đầy ngu tối.

New International Version (NIV)

22Although they claimed to be wise, they became fools

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

22Họ tự xưng mình là khôn ngoan, mà trở nên điên dại;

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

22Họ tự xưng mình là khôn ngoan, nhưng đã trở nên điên dại.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

22Họ cho mình là khôn ngoan nhưng đã trở nên điên dại.

Bản Dịch Mới (NVB)

22Tự cho mình là khôn ngoan, họ đã trở thành ngu dại,

Bản Phổ Thông (BPT)

22Họ bảo rằng mình khôn ngoan nhưng lại hóa ra ngu dại.

New International Version (NIV)

23and exchanged the glory of the immortal God for images made to look like a mortal human being and birds and animals and reptiles.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

23họ đã đổi vinh hiển của Đức Chúa Trời không hề hư nát lấy hình tượng của loài người hay hư nát, hoặc của điểu, thú, côn trùng.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

23Họ đã đổi vinh quang của Đức Chúa Trời bất diệt để lấy hình tượng của loài người hư nát, hoặc của chim muông, thú vật, hay loài bò sát.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

23Họ đã đánh đổi vinh hiển của Ðức Chúa Trời không hề hư nát cho những hình tượng của con người hay hư nát, hoặc chim chóc, súc vật, và rắn rết.

Bản Dịch Mới (NVB)

23đổi vinh quang của Đức Chúa Trời bất diệt ra giống như hình tượng của loài người hư nát, của chim trời, của thú đồng và loài bò sát.

Bản Phổ Thông (BPT)

23Họ đánh đổi vinh hiển của Thượng Đế, là Đấng sống đời đời, để thờ lạy những thần tượng tạc giống hình người, chim chóc, súc vật hoặc rắn rết.

New International Version (NIV)

24Therefore God gave them over in the sinful desires of their hearts to sexual impurity for the degrading of their bodies with one another.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

24Cho nên Đức Chúa Trời đã phó họ sa vào sự ô uế theo lòng ham muốn mình, đến nỗi tự làm nhục thân thể mình nữa,

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

24Vì thế, Đức Chúa Trời đã phó mặc họ cho những tham dục của lòng mình, rơi vào sự nhơ nhuốc để làm nhục thân thể của nhau,

Bản Dịch 2011 (BD2011)

24Vì thế Ðức Chúa Trời đã phó mặc họ cho những dục vọng của lòng họ, để họ sa vào những ô uế, làm nhục thân thể của nhau.

Bản Dịch Mới (NVB)

24Vì thế theo dục vọng của lòng họ, Đức Chúa Trời đã bỏ mặc họ đắm chìm vào trong sự nhơ nhuốc đến nỗi họ cùng làm nhục thân thể mình với nhau.

Bản Phổ Thông (BPT)

24Vì họ hành động như thế nên Thượng Đế bỏ mặc họ đi theo con đường tội lỗi, lúc nào họ cũng muốn làm ác. Do đó, họ đầy dẫy tội nhục dục, sử dụng thân thể với nhau một cách bậy bạ.

New International Version (NIV)

25They exchanged the truth about God for a lie, and worshiped and served created things rather than the Creator—who is forever praised. Amen.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

25vì họ đã đổi lẽ thật Đức Chúa Trời lấy sự dối trá, kính thờ và hầu việc loài chịu dựng nên thế cho Đấng dựng nên, là Đấng đáng khen ngợi đời đời! A-men.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

25vì họ đã đổi chân lý của Đức Chúa Trời để lấy sự dối trá; họ thờ phượng và phục vụ tạo vật thay vì Đấng Tạo Hóa, là Đấng đáng được ca ngợi đời đời! A-men.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

25Họ đã đánh đổi chân lý của Ðức Chúa Trời để lấy sự giả dối; họ thờ phượng và phục vụ loài thọ tạo thay vì Ðấng Tạo Hóa, Ðấng đáng được ca ngợi đời đời. A-men.

Bản Dịch Mới (NVB)

25Họ đổi chân lý Đức Chúa Trời lấy điều giả trá và thờ lạy, phụng sự tạo vật thay vì Đấng Tạo Hóa, là Đấng đáng được chúc tôn đời đời, A-men.

Bản Phổ Thông (BPT)

25Họ đã đánh đổi sự thật của Thượng Đế để lấy sự dối trá. Họ thờ phụng những vật được tạo dựng, thay vì thờ Đấng Tạo Hóa là Đấng đáng được ca ngợi đời đời. A-men.

New International Version (NIV)

26Because of this, God gave them over to shameful lusts. Even their women exchanged natural sexual relations for unnatural ones.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

26Ấy vì cớ đó mà Đức Chúa Trời đã phó họ cho sự tình dục xấu hổ; vì trong vòng họ, những người đàn bà đã đổi cách dùng tự nhiên ra cách khác nghịch với tánh tự nhiên.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

26Chính vì lý do đó mà Đức Chúa Trời đã phó mặc họ cho tình dục đáng xấu hổ. Cả đến đàn bà cũng đã đổi cách quan hệ tự nhiên ra cách phản tự nhiên.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

26Chính vì thế Ðức Chúa Trời đã phó mặc họ cho những dục vọng đồi bại của họ. Ngay cả phụ nữ của họ cũng đã đổi cách chung đụng xác thịt tự nhiên để theo cách phản tự nhiên.

Bản Dịch Mới (NVB)

26Bởi đó Đức Chúa Trời đã bỏ mặc họ cho tình dục bỉ ổi, ngay cả đàn bà cũng đổi cách luyến ái tự nhiên ra cách trái tự nhiên,

Bản Phổ Thông (BPT)

26Vì thế cho nên Thượng Đế đã bỏ mặc họ làm những việc nhơ nhuốc theo ý họ. Đàn bà không còn thực hành tình dục tự nhiên nữa, mà trái lại, hành dục với nhau.

New International Version (NIV)

27In the same way the men also abandoned natural relations with women and were inflamed with lust for one another. Men committed shameful acts with other men, and received in themselves the due penalty for their error.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

27Những người đàn ông cũng vậy, bỏ cách dùng tự nhiên của người đàn bà mà un đốt tình dục người nầy với kẻ kia, đàn ông cùng đàn ông phạm sự xấu hổ, và chính mình họ phải chịu báo ứng xứng với điều lầm lỗi của mình.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

27Đàn ông cũng vậy, bỏ cách quan hệ tự nhiên với phụ nữ mà un đốt tình dục lẫn nhau, đàn ông làm điều đồi bại với đàn ông, và chính họ phải chịu sự sửa phạt tương xứng với sự lầm lạc của mình.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

27Tương tự, đàn ông cũng đã bỏ cách chung đụng xác thịt tự nhiên với đàn bà mà un đốt sự thèm khát nhục dục với nhau; đàn ông làm những chuyện đồi bại với đàn ông, do đó họ phải chuốc lấy hình phạt tương xứng với hành động sai lầm của họ.

Bản Dịch Mới (NVB)

27đàn ông cũng vậy, bỏ cách luyến ái tự nhiên với đàn bà mà un đốt cuồng dục lẫn nhau, đàn ông làm điều đồi bại với đàn ông, và chuốc lấy cho mình quả báo xứng với sự sai lạc của họ.

Bản Phổ Thông (BPT)

27Đàn ông cũng vậy, không còn thực hành tình dục tự nhiên nữa, mà lại hành dục với nhau. Đàn ông làm những việc nhơ nhuốc với nhau, vì lý do đó thân thể họ phải mang lấy hình phạt về tội phạm của mình.

New International Version (NIV)

28Furthermore, just as they did not think it worthwhile to retain the knowledge of God, so God gave them over to a depraved mind, so that they do what ought not to be done.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

28Tại họ không lo nhìn biết Đức Chúa Trời, nên Đức Chúa Trời đã phó họ theo lòng hư xấu, đặng phạm những sự chẳng xứng đáng.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

28Vì họ không lo nhận biết Đức Chúa Trời, nên Đức Chúa Trời đã phó mặc họ cho một tâm trí bại hoại để làm những điều bất xứng.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

28Vì họ không coi sự nhận biết Ðức Chúa Trời là trọng, nên Ðức Chúa Trời đã phó mặc họ cho một tâm trí bại hoại, để làm những điều không nên làm.

Bản Dịch Mới (NVB)

28Và vì họ cho rằng không đáng nhận biết Đức Chúa Trời, nên Đức Chúa Trời cũng phó mặc họ cho tâm trí hư hỏng để làm những điều trái đạo đức.

Bản Phổ Thông (BPT)

28Người ta không cho việc hiểu biết thực sự về Thượng Đế là quan trọng. Nên Thượng Đế bỏ mặc họ suy nghĩ theo ý tưởng ngông cuồng, làm những việc bậy bạ.

New International Version (NIV)

29They have become filled with every kind of wickedness, evil, greed and depravity. They are full of envy, murder, strife, deceit and malice. They are gossips,

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

29Họ đầy dẫy mọi sự không công bình, độc ác, tham lam, hung dữ; chan chứa những điều ghen ghét, giết người, cãi lẫy, dối trá, giận dữ;

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

29Họ đầy dẫy mọi điều bất chính, gian ác, tham lam, hiểm độc; lòng đầy ganh tị, giết người, gây gổ, dối trá, nham hiểm;

Bản Dịch 2011 (BD2011)

29Lòng họ đầy mọi thứ bất chính, gian ác, tham lam, và hiểm độc. Họ đầy sự ganh tị, giết người, gây gổ, lừa đảo, và xảo quyệt. Họ nói hành,

Bản Dịch Mới (NVB)

29Họ đầy dẫy mọi thứ bất chính, xấu xa, tham lam, gian ác, đầy lòng ganh ghét, sát nhân, tranh cãi, man trá, hiểm độc, nói hành,

Bản Phổ Thông (BPT)

29Lòng họ đầy dẫy tội lỗi, độc ác, ích kỷ, ganh ghét, đố kỵ, giết người, tranh giành, dối trá, làm hại nhau. Họ nói hành,

New International Version (NIV)

30slanderers, God-haters, insolent, arrogant and boastful; they invent ways of doing evil; they disobey their parents;

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

30hay mách, gièm chê, chẳng tin kính, xấc xược, kiêu ngạo, khoe khoang, khôn khéo về sự làm dữ, không vâng lời cha mẹ;

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

30nói hành, vu khống, thù ghét Đức Chúa Trời, xấc xược, kiêu ngạo, khoe khoang, chuyên làm điều ác, không vâng lời cha mẹ;

Bản Dịch 2011 (BD2011)

30vu khống, ghét Ðức Chúa Trời, xấc xược, kiêu căng, khoác lác, giỏi tạo ra điều ác, không vâng lời cha mẹ,

Bản Dịch Mới (NVB)

30gièm chê, thù ghét, xấc xược, kiêu căng, khoác lác, khéo bày việc ác, không vâng phục cha mẹ,

Bản Phổ Thông (BPT)

30bêu xấu lẫn nhau và thù ghét Thượng Đế. Họ cộc cằn, kiêu căng và khoác lác. Lúc nào họ cũng nghĩ đến chuyện làm quấy, không vâng lời cha mẹ.

New International Version (NIV)

31they have no understanding, no fidelity, no love, no mercy.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

31dại dột, trái lời giao ước, không có tình nghĩa tự nhiên, không có lòng thương xót.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

31dại dột, bội tín, không có tình người, không có lòng thương xót.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

31không chút lương tri, không giữ lời hứa, không chút tình cảm, không chút xót thương.

Bản Dịch Mới (NVB)

31u mê, thất tín, vô tâm, bất nhân.

Bản Phổ Thông (BPT)

31Họ ngu dại, không giữ lời hứa, thiếu nhân từ và khoan dung với người khác.

New International Version (NIV)

32Although they know God’s righteous decree that those who do such things deserve death, they not only continue to do these very things but also approve of those who practice them.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

32Dầu họ biết mạng lịnh Đức Chúa Trời tỏ ra những người phạm các tội dường ấy là đáng chết, thế mà chẳng những họ tự làm thôi đâu, lại còn ưng thuận cho kẻ khác phạm các điều ấy nữa.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

32Họ thừa biết luật của Đức Chúa Trời định rằng những ai phạm các tội như thế là đáng chết. Vậy mà chẳng những họ làm những điều đó, lại còn tán thành cho người khác làm nữa.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

32Dù họ đã biết rõ luật của Ðức Chúa Trời rằng hễ ai làm những việc như thế thì đáng chết, thế mà không những chính họ đã làm những điều ấy, họ còn cổ võ những người khác cùng làm những điều ấy nữa.

Bản Dịch Mới (NVB)

32Tuy họ biết rõ theo án luật của Đức Chúa Trời, những kẻ nào làm những điều như thế thì đáng chết, vậy mà chẳng những họ làm những điều đó mà thôi, nhưng còn tán thành cho những kẻ khác làm nữa.

Bản Phổ Thông (BPT)

32Họ biết luật Thượng Đế dạy rằng những ai có đời sống như vậy thật đáng chết, nhưng không những họ vẫn tiếp tục làm ác, mà lại còn xúi giục kẻ khác làm nữa.