So Sánh Bản Dịch(Tối đa 6 bản dịch)


New International Version(NIV)

Bản Truyền Thống 1926(VI1934)

Bản Hiệu Đính Truyền Thống(RVV11)

Bản Dịch 2011(BD2011)

Bản Dịch Mới(NVB)

Bản Phổ Thông(BPT)

New International Version (NIV)

1When the enemies of Judah and Benjamin heard that the exiles were building a temple for the Lord, the God of Israel,

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

1Khi các thù nghịch của Giu-đa và Bên-gia-min hay rằng những người đã bị bắt làm phu tù được về cất đền thờ cho Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên,

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

1Khi các kẻ thù của Giu-đa và Bên-gia-min nghe tin những người bị lưu đày được trở về xây cất đền thờ cho Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên,

Bản Dịch 2011 (BD2011)

1Khi những kẻ thù của người Giu-đa và người Bên-gia-min nghe rằng những người bị lưu đày nay đã trở về và đã khởi công xây lại Ðền Thờ CHÚA, Ðức Chúa Trời của I-sơ-ra-ên,

Bản Dịch Mới (NVB)

1Khi kẻ thù của Giu-đa và Bên-gia-min nghe tin những người lưu đày trở về đang xây cất đền thờ CHÚA, Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên,

Bản Phổ Thông (BPT)

1Khi những kẻ thù của dân Giu-đa và Bên-gia-min nghe rằng những tù binh vừa hồi hương đang xây lại đền thờ của CHÚA, Thượng Đế của Ít-ra-en,

New International Version (NIV)

2they came to Zerubbabel and to the heads of the families and said, “Let us help you build because, like you, we seek your God and have been sacrificing to him since the time of Esarhaddon king of Assyria, who brought us here.”

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

2bèn đi đến Xô-rô-ba-bên và các trưởng tộc mà nói rằng: Chúng tôi muốn đồng xây cất với các ngươi, vì chúng tôi tìm cầu Đức Chúa Trời của anh em, cũng như anh em, và chúng tôi đã tế lễ cho Ngài từ đời Ê-sa-Ha-đôn, vua A-si-ri, đem chúng tôi lên đây.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

2thì chúng đến với Xô-rô-ba-bên và các trưởng tộc và nói: “Chúng tôi muốn cùng xây cất với các ông, vì chúng tôi cũng tìm kiếm Đức Chúa Trời như các ông và chúng tôi đã dâng tế lễ cho Ngài từ đời Ê-sạt Ha-đôn, vua A-si-ri, là người đem chúng tôi đến đây.”

Bản Dịch 2011 (BD2011)

2chúng đến gặp Xê-ru-ba-bên và các vị trưởng tộc và nói với họ, “Xin cho chúng tôi cùng xây dựng Ðền Thờ với quý vị, vì chúng tôi cũng thờ phượng Ðức Chúa Trời của quý vị như quý vị. Chúng tôi đã dâng các của tế lễ lên Ngài kể từ ngày Ê-sạc-hát-đôn vua A-sy-ri đem chúng tôi đến định cư ở đây.”

Bản Dịch Mới (NVB)

2họ đến thưa với Xô-rô-ba-bên và các trưởng tộc: “Xin cho chúng tôi xây cất chung với các ông, vì chúng tôi cũng tìm cầu Đức Chúa Trời các ông y như các ông, và chúng tôi vẫn dâng lễ vật cho Ngài từ ngày Ê-sa-ha-đôn vua A-si-ri đem chúng tôi đến đây.”

Bản Phổ Thông (BPT)

2thì họ đến gặp Xê-ru-ba-bên và các trưởng gia đình và nói, “Chúng tôi sẽ giúp đỡ các anh xây cất vì chúng tôi cũng như các anh, muốn thờ phụng Thượng Đế các anh. Chúng tôi đã dâng của lễ cho Ngài từ thời Ê-sa-hát-đôn, vua A-xy-ri là người đã mang chúng tôi đến đây.”

New International Version (NIV)

3But Zerubbabel, Joshua and the rest of the heads of the families of Israel answered, “You have no part with us in building a temple to our God. We alone will build it for the Lord, the God of Israel, as King Cyrus, the king of Persia, commanded us.”

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

3Nhưng Xô-rô-ba-bên, Giê-sua, và các trưởng tộc khác của Y-sơ-ra-ên, đáp với chúng rằng: Các ngươi chẳng được phần chung với chúng ta đặng cất một đền thờ cho Đức Chúa Trời của chúng ta; song chúng ta, chỉ một mình chúng ta, sẽ cất một đền cho Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên, y như Si-ru, vua Phe-rơ-sơ, đã truyền bảo chúng ta.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

3Nhưng Xô-rô-ba-bên, Giê-sua, cùng các trưởng tộc khác của Y-sơ-ra-ên, trả lời với chúng rằng: “Các ông chẳng được dự phần với chúng tôi trong việc xây cất đền thờ cho Đức Chúa Trời của chúng tôi. Nhưng chỉ một mình chúng tôi sẽ cất đền thờ cho Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên, đúng như Si-ru, vua Ba Tư, đã truyền bảo chúng tôi.”

Bản Dịch 2011 (BD2011)

3Nhưng Xê-ru-ba-bên, Giê-sua, và tất cả các vị trưởng tộc của người I-sơ-ra-ên đáp với họ, “Quý vị sẽ không dự phần gì trong việc xây lại Ðền Thờ cho Ðức Chúa Trời của chúng tôi, nhưng chỉ chúng tôi sẽ xây dựng lại Ðền Thờ cho CHÚA, Ðức Chúa Trời của I-sơ-ra-ên, như Sy-ru vua Ba-tư đã truyền cho chúng tôi.”

Bản Dịch Mới (NVB)

3Nhưng Xô-rô-ba-bên, Giê-sua, và các trưởng tộc khác của Y-sơ-ra-ên đáp lời chúng: “Các ông không được dự phần với chúng tôi trong việc xây cất đền thờ Đức Chúa Trời chúng tôi, chỉ riêng chúng tôi có trách nhiệm xây cất đền thờ CHÚA, Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên, theo như Si-ru vua Ba-tư ra lệnh cho chúng tôi.”

Bản Phổ Thông (BPT)

3Nhưng Xê-ru-ba-bên, Giê-sua, và các lãnh tụ Ít-ra-en đáp, “Các anh không cần giúp đỡ chúng tôi xây đền thờ của Thượng Đế chúng tôi. Chúng tôi sẽ tự mình xây đền thờ đó cho CHÚA, Thượng Đế của Ít-ra-en theo như Xi-ru, vua Ba-tư truyền dặn chúng tôi.”

New International Version (NIV)

4Then the peoples around them set out to discourage the people of Judah and make them afraid to go on building.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

4Bấy giờ dân của xứ xui cho dân Giu-đa ngã lòng nhát sợ, trong khi họ xây cất;

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

4Bấy giờ dân trong xứ làm cho dân Giu-đa nản lòng, sợ hãi trong khi xây cất.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

4Bấy giờ dân đã cư ngụ sẵn trong xứ lấy làm bất mãn về quyết định của người Do-thái, vì thế chúng quyết tâm làm cho họ phải lo sợ trong việc tái xây dựng Ðền Thờ.

Bản Dịch Mới (NVB)

4Vậy, dân trong vùng làm cho dân Giu-đa ngã lòng, nhát sợ không dám xây cất nữa;

Bản Phổ Thông (BPT)

4Sau đó những người sống quanh họ tìm cách làm nản lòng dân Giu-đa khiến cho họ sợ không dám xây cất.

New International Version (NIV)

5They bribed officials to work against them and frustrate their plans during the entire reign of Cyrus king of Persia and down to the reign of Darius king of Persia.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

5và trọn đời Si-ru, vua Phe-rơ-sơ, cho đến đời Đa-ri-út, vua Phe-rơ-sơ, trị vì, chúng đem hối lộ cho những mưu sĩ chống với dân Giu-đa, đặng phá việc họ lo toan.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

5Chúng thuê các cố vấn chống lại dân Giu-đa, nhằm phá hỏng kế hoạch của họ trong suốt thời gian trị vì của Si-ru, vua Ba Tư, cho đến đời Đa-ri-út, vua Ba Tư.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

5Chúng hối lộ các mưu sĩ để bọn đó ton hót với vua hầu làm ngưng công cuộc tái xây dựng. Do đó công việc đã bị đình trệ suốt triều đại của Sy-ru vua Ba-tư mãi đến triều đại của Ða-ri-út vua Ba-tư.

Bản Dịch Mới (NVB)

5họ mua chuộc chính quyền chống đối và phá hoại dự án xây cất của dân Giu-đa suốt thời gian còn lại dưới triều Si-ru vua Ba-tư cho đến thời Đa-ri-út làm vua Ba-tư.

Bản Phổ Thông (BPT)

5Các kẻ thù của họ thuê những người khác làm trì hoãn chương trình xây cất trong thời Xi-ru vua Ba-tư. Việc đó kéo dài đến thời Đa-ri-út lên ngôi vua Ba-tư.

New International Version (NIV)

6At the beginning of the reign of Xerxes, they lodged an accusation against the people of Judah and Jerusalem.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

6Nhằm đời A-suê-ru, vừa bắt đầu lên ngôi, thì chúng làm một cái trạng cáo dân Giu-đa và dân cư Giê-ru-sa-lem.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

6Vào đời vua A-suê-ru, khi vua bắt đầu trị vì, chúng viết một bản cáo trạng về dân Giu-đa và dân cư Giê-ru-sa-lem.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

6Vào triều đại của A-ha-suê-ru, trong năm ông vừa mới đăng quang, chúng làm một bản cáo trạng gởi lên vu cáo dân Do-thái và Giê-ru-sa-lem.

Bản Dịch Mới (NVB)

6Đến đời vua A-suê-ru, khi vua khởi sự trị vì, họ viết một bản cáo trạng tố dân cư Giu-đa và Giê-ru-sa-lem.

Bản Phổ Thông (BPT)

6Khi Xét-xe mới lên ngôi, những người đó viết một thư phản đối dân Giu-đa và Giê-ru-sa-lem.

New International Version (NIV)

7And in the days of Artaxerxes king of Persia, Bishlam, Mithredath, Tabeel and the rest of his associates wrote a letter to Artaxerxes. The letter was written in Aramaic script and in the Aramaic language.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

7Qua đời Ạt-ta-xét-xe, thì Bít-lam, Mít-rê-đát, Ta-bê-ên và đồng liêu của chúng, viết biểu tấu lên Ạt-ta-xét-xe, vua Phe-rơ-sơ. Cái biểu ấy viết bằng chữ A-ram và dịch ra tiếng A-ram.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

7Đến đời Ạt-ta-xét-xe, thì Bít-lam, Mít-rê-đát, Ta-bê-ên và các đồng liêu của chúng viết sớ tâu lên Ạt-ta-xét-xe, vua Ba Tư. Sớ ấy viết bằng chữ A-ram và được dịch ra cho vua.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

7Trong thời của Ạc-ta-xẹc-xe: Bích-lam, Mít-rê-đát, Ta-bê-ên, và đồng bọn của chúng đã viết một bản cáo trạng tâu với Ạc-ta-xẹc-xe vua Ba-tư. Bản cáo trạng ấy được viết bằng tiếng A-ram và dịch ra từ tiếng A-ram.

Bản Dịch Mới (NVB)

7Dưới đời Át-ta-xét-xe, Bích-lam, Mít-rê-đát, Ta-bê-ên, và các cộng sự viên khác của ông viết sớ tâu lên Át-ta-xét-xe, vua Ba-tư. Sớ viết bằng tiếng A-ram, và dịch ra cho vua.

Bản Phổ Thông (BPT)

7Khi Ạc-ta-xét-xe lên ngôi vua Ba-tư thì Bích-lam, Mít-rê-đít, Ta-biên, và những đồng lõa của chúng viết một thư cho vua. Thư đó viết bằng tiếng A-ram và được dịch ra.

New International Version (NIV)

8Rehum the commanding officer and Shimshai the secretary wrote a letter against Jerusalem to Artaxerxes the king as follows:

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

8Lại Rê-hum, tể tướng, và Sim-sai, thơ ký, đồng viết biểu nghịch cùng Giê-ru-sa-lem tấu lên vua Ạt-ta-xét-xe như vầy:

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

8Tư lệnh Rê-hum và thư ký Sim-sai cũng viết sớ chống lại Giê-ru-sa-lem dâng lên vua Ạt-ta-xét-xe như sau:

Bản Dịch 2011 (BD2011)

8Rê-hum tổng trấn và Sim-sai thư ký đã viết một văn thư tố cáo Giê-ru-sa-lem gởi lên Vua Ạc-ta-xẹc-xe với nội dung như sau:

Bản Dịch Mới (NVB)

8Sau đây, đại biểu triều đình Rê-hum và bí thư Sim-sai viết sớ chống đối Giê-ru-sa-lem tâu lên vua Át-ta-xét-xe, như sau:

Bản Phổ Thông (BPT)

8Rê-hum, quan tổng trấn, và Sim-sai, thư ký quan tổng trấn viết một thư chống Giê-ru-sa-lem cho vua. Thư viết như sau:

New International Version (NIV)

9Rehum the commanding officer and Shimshai the secretary, together with the rest of their associates—the judges, officials and administrators over the people from Persia, Uruk and Babylon, the Elamites of Susa,

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

9Rê-hum, tể tướng, Sim-sai, thơ ký, và các đồng liêu của họ, tức là người Đi-nít, người A-phạt-sa-thít, người Tạt-bê-lít, người A-phạt-sít, người Ạt-kê-vít, người Ba-by-lôn, người Su-san, người Đê-ha-vít, người Ê-lam,

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

9“Tư lệnh Rê-hum, thư ký Sim-sai, và các đồng liêu, tức là người Đi-nít, người A-phạt-sa-thít, người Tạt-bê-lít, người A-phạt-sít, người Ạt-kê-vít, người Ba-by-lôn, người Su-san, người Đê-ha-vít, người Ê-lam,

Bản Dịch 2011 (BD2011)

9“Rê-hum tổng trấn, Sim-sai thư ký, các quan đồng liêu, các thẩm phán, các khâm sai, các viên chức chính quyền, các nhà lãnh đạo người Ba-tư, các nhà lãnh đạo người Ê-rết, các nhà lãnh đạo người Ba-by-lôn, các nhà lãnh đạo dân Su-san tức dân Ê-lam,

Bản Dịch Mới (NVB)

9đại biểu triều đình Rê-hum, bí thư Sim-sai, và các cộng sự viên khác, các vị thẩm phán và cộng sự giữa vòng người Tạt-bên, người Ba-tư, người Ê-rết, người Ba-by-lôn, người Su-sa, tức là người Ê-lam,

Bản Phổ Thông (BPT)

9Thư nầy do Rê-hum, quan tổng trấn, Sim-sai, thư ký, và các đồng nghiệp: các quan án cùng những viên chức cao cấp cai quản những người đã trở về từ Tri-bô-li, Ba-tư, Ê-réc, và Ba-by-lôn, người Ê-lam ở Su-sa,

New International Version (NIV)

10and the other people whom the great and honorable Ashurbanipal deported and settled in the city of Samaria and elsewhere in Trans-Euphrates.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

10và dân sự khác mà Ô-náp-ba cao trọng và vinh hiển đã đem qua, khiến ở trong thành Sa-ma-ri và trong các miền khác bên phía nầy sông.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

10và các dân tộc khác mà Ô-náp-ba vĩ đại và cao quý đã đem qua và cho định cư trong các thành Sa-ma-ri và các miền khác bên kia sông”

Bản Dịch 2011 (BD2011)

10và toàn thể các dân mà ngài Ốt-náp-pa vĩ đại và lừng danh đã trục xuất và đem đến định cư trong các thành ở Sa-ma-ri và trong các miền của tỉnh Bên Kia Sông, đồng tấu:”

Bản Dịch Mới (NVB)

10và những sắc dân khác mà vua Ô-náp-ba vĩ đại và cao trọng đưa đến lập nghiệp tại thành Sa-ma-ri và các nơi khác trong tỉnh phía tây sông.

Bản Phổ Thông (BPT)

10cùng những người mà vua A-su-ba-ni-banh cao cả vĩ đại đã trục xuất ra khỏi xứ họ và cho định cư tại thành Xa-ma-ri cùng những nơi khác thuộc vùng Xuyên Ơ-phơ-rát.

New International Version (NIV)

11(This is a copy of the letter they sent him.) To King Artaxerxes, From your servants in Trans-Euphrates:

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

11Nầy là bản sao lại của bức biểu chúng gởi tấu vua Ạt-ta-xét-xe. Các tôi tớ vua ở bên phía này sông, kính tấu vua Ạt-ta-xét-xe.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

11Đây là bản sao của tờ biểu mà chúng tâu lên vua Ạt-ta-xét-xe:“Các đầy tớ của đức vua trong tỉnh phía tây sông Ơ-phơ-rát, kính tâu đức vua Ạt-ta-xét-xe.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

11(và đây là bản sao cáo trạng chúng đã gởi):“Tâu Vua Ạc-ta-xẹc-xe:Các tôi tớ của hoàng thượng, tức các dân sống trong tỉnh Bên Kia Sông kính lời chào thăm hoàng thượng. Bây giờ

Bản Dịch Mới (NVB)

11Đây là bản sao tờ sớ họ trình lên vua: “Tôi tớ vua, trong tỉnh phía tây sông, kính tâu vua Át-ta-xét-xe.

Bản Phổ Thông (BPT)

11Đây là bản sao bức thư họ gởi cho vua Ạt-ta-xét-xe:“Các đầy tớ vua sống trong vùng Xuyên Ơ-phơ-rát, kính gởi vua.

New International Version (NIV)

12The king should know that the people who came up to us from you have gone to Jerusalem and are rebuilding that rebellious and wicked city. They are restoring the walls and repairing the foundations.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

12Tâu vua hay rõ ràng những người Giu-đa đã từ nơi vua lên đến chúng tôi tại Giê-ru-sa-lem, đương lập lại thành phản nghịch hung ác ấy; chúng nó đã xây lại vách thành và tu bổ các nền cho xong rồi.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

12Kính tâu đức vua biết rằng những người Do Thái từ nơi vua ở đã đến nơi chúng tôi tại Giê-ru-sa-lem. Chúng đang tái thiết thành phản nghịch, gian ác ấy; chúng bắt đầu xây lại vách thành, còn nền móng đã tu bổ xong rồi.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

12chúng thần xin kính trình để hoàng thượng được kính tường:Bọn Do-thái rời khỏi hoàng thượng đã đến với chúng thần và chúng đã về tới Giê-ru-sa-lem. Hiện giờ chúng đang xây dựng lại cái thành phản loạn và gian ác ấy. Chúng sắp sửa xây xong các tường thành và đang xây sửa các nền móng của Ðền Thờ.

Bản Dịch Mới (NVB)

12Giờ đây, chúng tôi xin tâu bệ hạ rõ những người Do Thái từ nơi bệ hạ đi lên về hướng chúng tôi đã đến thành Giê-ru-sa-lem. Chúng đang xây lại thành phản loạn và độc ác này, và sắp sửa hoàn tất vách thành, còn nền móng đã xây xong.

Bản Phổ Thông (BPT)

12Thưa vua, vua biết những người Do-thái từ vua trở về cùng chúng tôi đã đi đến Giê-ru-sa-lem để xây lại thành gian ác bất tuân nầy. Họ đang xây lại vách và nền của các tòa nhà.

New International Version (NIV)

13Furthermore, the king should know that if this city is built and its walls are restored, no more taxes, tribute or duty will be paid, and eventually the royal revenues will suffer.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

13Vậy, nguyện vua biết rõ ràng ví bằng thành nầy được cất lại, và vách tường nó được xây lên, tất dân nó sẽ chẳng tiến cống, nộp thuế, hoặc đóng tiền mãi lộ, rồi sau chắc sẽ gây họa cho vua.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

13Vậy, xin đức vua biết rằng nếu thành nầy được xây lại, và vách thành được dựng lên thì chúng sẽ không tiến cống, nộp thuế, hoặc đóng tiền mãi lộ, và ngân khố triều đình bị thiệt hại.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

13Kính tâu để hoàng thượng được tường rằng: nếu thành ấy được xây lại xong và các tường thành của nó được hoàn tất, thì chúng sẽ không nộp triều cống, không đóng thuế, và không nộp thuế lưu thông cho hoàng thượng nữa. Như vậy công quỹ của hoàng thượng sẽ bị thiệt thòi.

Bản Dịch Mới (NVB)

13Do đó, chúng tôi xin tâu bệ hạ rõ, nếu thành này xây xong, và vách thành hoàn tất, chúng sẽ không nạp cống, đóng thuế quan, thuế đất cho bệ hạ nữa, và hậu quả là thiệt hại cho ngân khố triều đình.

Bản Phổ Thông (BPT)

13Bây giờ, thưa vua, nên biết rằng nếu Giê-ru-sa-lem được xây, vách nó được sửa chữa lại thì Giê-ru-sa-lem sẽ không còn đóng món thuế nào nữa. Rồi số thu của chính phủ sẽ sụt xuống.

New International Version (NIV)

14Now since we are under obligation to the palace and it is not proper for us to see the king dishonored, we are sending this message to inform the king,

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

14Vả, vì chúng tôi ăn muối của đền vua, và chẳng nỡ chứng kiến việc gây thiệt hại cho vua như vậy, nên chúng tôi sai sứ giả đến tâu rõ cùng vua,

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

14Vì chúng tôi hưởng lộc của triều đình, cũng không nỡ ngồi nhìn đức vua bị xúc phạm, nên chúng tôi sai sứ giả đến tâu lên đức vua,

Bản Dịch 2011 (BD2011)

14Nay vì chúng thần được hưởng lộc của hoàng thượng, chúng thần không nỡ nhìn thấy hoàng thượng phải bị thiệt hại, vì thế chúng thần đồng kính gởi bản báo cáo nầy lên hoàng thượng.

Bản Dịch Mới (NVB)

14Vì chúng tôi hưởng lộc triều đình, chúng tôi không thể bàng quan chứng kiến cảnh bệ hạ bị xúc phạm như thế, nên chúng tôi dâng sớ tâu bệ hạ rõ,

Bản Phổ Thông (BPT)

14Vì chúng tôi phải trung thành với chính phủ, chúng tôi không muốn vua bị người ta xem thường cho nên chúng tôi viết thư nầy để ngài biết.

New International Version (NIV)

15so that a search may be made in the archives of your predecessors. In these records you will find that this city is a rebellious city, troublesome to kings and provinces, a place with a long history of sedition. That is why this city was destroyed.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

15đặng người ta tra khảo trong sử ký các tổ phụ vua: tất sẽ tìm thấy trong sách sử ký đó và biết rằng cái thành nầy vốn là một cái thành phản nghịch, gây thiệt hại cho các vua và nước; từ thuở xưa, người ta hay làm loạn ở đó; bởi cớ ấy thành nầy đã bị phá hoang.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

15để người ta tra cứu trong sử ký của các tổ phụ vua. Khi tra cứu trong sách sử ký ấy, đức vua sẽ biết rằng thành nầy vốn là một thành phản nghịch, gây thiệt hại cho các vua và các tỉnh. Từ thuở xưa, dân ở đó hay dấy loạn và vì cớ ấy mà thành nầy đã bị phá hủy.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

15Kính xin hoàng thượng cho lục lại trong văn khố của các tiên vương. Chúng thần tin rằng các văn kiện ấy sẽ cho hoàng thượng thấy rõ thành ấy quả là một thành phản loạn, đã gây nhiều phiền phức cho các tiên vương và các tỉnh, một thành có lịch sử chuyên môn dấy loạn, vì thế nó đã bị hủy diệt.

Bản Dịch Mới (NVB)

15xin bệ hạ cho truy cứu sách sử đời các vua cha. Trong sách sử, bệ hạ sẽ khám phá được và xác minh rằng thành này là một thành hay phản nghịch, chuyên gây thiệt hại cho các vua và các tỉnh. Dân thành đã từng dấy loạn từ xưa. Vì cớ đó mà thành này bị phá đổ hoang tàn.

Bản Phổ Thông (BPT)

15Chúng tôi đề nghị ngài cho sưu tầm sử liệu của các vua tiền nhiệm. Ngài sẽ thấy rằng thành Giê-ru-sa-lem bất phục tùng và gây rối cho các vua cùng các vùng do nước Ba-tư kiểm soát. Từ lâu lắm rồi nó là chỗ khỏi xướng sự bất tuân. Vì thế mà nó bị tiêu hủy.

New International Version (NIV)

16We inform the king that if this city is built and its walls are restored, you will be left with nothing in Trans-Euphrates.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

16Chúng tôi tâu báo vua hay rằng nếu thành nầy được cất lại, và vách tường nó được xây lên, tất tại cớ ấy, đất ở phía bên nầy sông sẽ chẳng còn phục vua nữa.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

16Chúng tôi trình tâu để đức vua biết rằng nếu thành nầy được cất lại, và vách thành được xây lên thì đức vua sẽ chẳng còn phần đất nào trong tỉnh phía tây sông Ơ-phơ-rát nữa.”

Bản Dịch 2011 (BD2011)

16Chúng thần xin quả quyết với hoàng thượng rằng một khi thành ấy được xây lại xong, và các tường thành của nó được hoàn tất, hoàng thượng sẽ bị mất hết cả tỉnh Bên Kia Sông.”

Bản Dịch Mới (NVB)

16Chúng tôi xin tâu bệ hạ rõ, nếu thành này xây xong, và vách thành hoàn tất, bấy giờ bệ hạ sẽ không còn phần đất nào bên phía tây sông nữa.”

Bản Phổ Thông (BPT)

16Thưa vua, chúng tôi muốn vua biết rằng nếu thành nầy được tái thiết, vách được sửa chữa lại thì vua không còn gì ở phía Xuyên Ơ-phơ-rát bên nầy cả.”

New International Version (NIV)

17The king sent this reply: To Rehum the commanding officer, Shimshai the secretary and the rest of their associates living in Samaria and elsewhere in Trans-Euphrates: Greetings.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

17Vua bèn giáng chiếu cho tể tướng Rê-hum, cho thơ ký Sim-sai, và cho các đồng liêu của họ ở tại Sa-ma-ri và ở trong các miền khác phía bên này sông, mà rằng: Nguyện các ngươi bình an.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

17Vua ban chiếu chỉ cho tư lệnh Rê-hum, thư ký Sim-sai, và cho các đồng liêu của chúng ở tại Sa-ma-ri và ở trong các miền khác phía bên kia sông, rằng:“Chúc các ngươi bình an.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

17Thế là vua ban một sắc lệnh để trả lời:“Gởi Rê-hum tổng trấn, Sim-sai thư ký, và tất cả các quan chức ở Sa-ma-ri và các miền khác trong tỉnh Bên Kia Sông:Chào tất cả.

Bản Dịch Mới (NVB)

17Vua giáng chiếu phúc đáp: “Gởi đại biểu triều đình Rê-hum, bí thư Sim-sai và các cộng sự viên khác đang sống tại Sa-ma-ri và các nơi khác trong tỉnh phía tây sông. Chúc các khanh bình an.

Bản Phổ Thông (BPT)

17Vua gởi thư phúc đáp như sau:“Gởi Rê-hum, quan tổng trấn, và Sim-sai, thư ký cùng các đồng nghiệp sống ở Xa-ma-ri cùng những người sống ở các nơi khác trong vùng Xuyên Ơ-phơ-rát.Chào thăm các ngươi.

New International Version (NIV)

18The letter you sent us has been read and translated in my presence.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

18Bức biểu các ngươi dâng tấu lên ta đã đọc ra tỏ tường trước mặt ta.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

18Tờ biểu các ngươi dâng lên đã được dịch và đọc rõ ràng trước mặt ta.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

18Bức thư các ngươi gởi đến ta đã được dịch ra và đọc rõ trước mặt ta.

Bản Dịch Mới (NVB)

18Tờ sớ các khanh dâng lên đã đọc ra đúng nguyên văn trước mặt ta.

Bản Phổ Thông (BPT)

18Bức thư các ngươi gởi cho ta đã được phiên dịch và đọc cho ta nghe.

New International Version (NIV)

19I issued an order and a search was made, and it was found that this city has a long history of revolt against kings and has been a place of rebellion and sedition.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

19Cứ theo mạng lịnh ta, người ta đã tra khảo, thấy rằng từ đời xưa cái thành này có dấy loạn với các vua, và trong nó hằng có sự phản nghịch và việc ngụy đảng.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

19Ta đã ra lệnh tra cứu và thấy rằng từ đời xưa, thành nầy đã từng dấy loạn với các vua, phản nghịch và nổi loạn thường xảy ra trong thành nầy.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

19Ta đã truyền cho lục trong văn khố và đã thấy thành ấy quả là thành có thành tích phản loạn chống lại các tiên vương. Thành ấy đúng là cái nôi của sự phản loạn và dấy nghịch.

Bản Dịch Mới (NVB)

19Ta đã ra lệnh truy cứu và khám phá được rằng thành này từ xưa đã từng nổi dậy chống nghịch các vua. Phản nghịch và dấy loạn thường xuyên xảy ra trong thành.

Bản Phổ Thông (BPT)

19Ta ra lệnh sưu tầm sử liệu và việc đó đã được thực hiện. Ta thấy rằng thành Giê-ru-sa-lem có một lịch sử phản nghịch với các vua và là một địa điểm gây rối.

New International Version (NIV)

20Jerusalem has had powerful kings ruling over the whole of Trans-Euphrates, and taxes, tribute and duty were paid to them.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

20Lại tại Giê-ru-sa-lem đã có những vua rất quyền thế, quản hạt cả xứ ở bên kia sông, và người ta tiến cống, nộp thuế, và đóng tiền mãi lộ cho các vua đó.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

20Tại Giê-ru-sa-lem đã có những vua hùng mạnh cai trị ở bên kia sông, và người ta tiến cống, nộp thuế, và đóng tiền mãi lộ cho các vua đó.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

20Giê-ru-sa-lem đã từng có các vua hùng cường trị vì ở đó. Dân trong các miền của tỉnh Bên Kia Sông đã từng nộp triều cống, đóng thuế, và nộp thuế lưu thông cho các vua ấy.

Bản Dịch Mới (NVB)

20Có những vua hùng mạnh cai trị Giê-ru-sa-lem và khắp cả vùng phía tây sông, và người ta đã từng nạp cống và đóng thuế quan, thuế đất cho các vua ấy.

Bản Phổ Thông (BPT)

20Giê-ru-sa-lem trước kia có các vua hùng mạnh cai trị toàn vùng Xuyên Ơ-phơ-rát, và người ta phải đóng đủ loại thuế cho nó.

New International Version (NIV)

21Now issue an order to these men to stop work, so that this city will not be rebuilt until I so order.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

21Vì vậy, các ngươi hãy truyền lệnh ngăn cản những người đó cất lại cái thành này, cho đến chừng ta ban chiếu chỉ về việc đó.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

21Vì vậy, các ngươi hãy ra lệnh đình chỉ việc tái thiết thành này cho đến khi ta ban chiếu chỉ về việc đó.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

21Nay các ngươi hãy truyền lịnh của ta cho những người ấy rằng chúng phải đình chỉ ngay công việc tái thiết, để thành ấy không được xây dựng lại cho đến khi ta có quyết định mới.

Bản Dịch Mới (NVB)

21Vì thế các khanh hãy ra lệnh cho các người đó ngưng việc xây cất thành này cho đến khi ta ban lệnh mới.

Bản Phổ Thông (BPT)

21Bây giờ hãy ra lệnh cho các người đó ngưng công tác. Thành Giê-ru-sa-lem không được phép xây lại cho đến khi có lệnh ta.

New International Version (NIV)

22Be careful not to neglect this matter. Why let this threat grow, to the detriment of the royal interests?

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

22Khá cẩn thận về sự nầy, e các vua bị thiệt hại thêm chăng.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

22Hãy hành xử thận trọng về việc nầy, kẻo lợi ích của nhà vua bị thiệt hại thêm chăng.”

Bản Dịch 2011 (BD2011)

22Các ngươi khá cẩn thận và chớ lơ đễnh thi hành việc nầy. Tại sao các ngươi để cho vua bị thiệt hại thêm?”

Bản Dịch Mới (NVB)

22Các khanh hãy thận trọng, đừng chểnh mảng trong công tác này, kẻo việc rủi ro này gây thiệt hại cho triều đình.”

Bản Phổ Thông (BPT)

22Các ngươi phải thi hành lệnh nầy vì nếu chúng tiếp tục, chính phủ sẽ bị thiệt hại.”

New International Version (NIV)

23As soon as the copy of the letter of King Artaxerxes was read to Rehum and Shimshai the secretary and their associates, they went immediately to the Jews in Jerusalem and compelled them by force to stop.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

23Vừa khi đã đọc chiếu của vua Ạt-ta-xét-xe trước mặt Rê-hum, thơ ký, Sim-sai và các đồng liêu họ, thì chúng đồng lật đật đi đến dân Giu-đa tại Giê-ru-sa-lem, lấy năng lực và cường quyền khiến họ ngưng công việc.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

23Ngay sau khi đã đọc chiếu chỉ của vua Ạt-ta-xét-xe trước mặt Rê-hum, thư ký Sim-sai và các cộng sự viên thì chúng tức tốc đi đến với dân Do Thái tại Giê-ru-sa-lem, dùng quyền lực buộc họ phải đình chỉ việc xây cất.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

23Khi bản sao sắc lệnh của vua được đọc cho Rê-hum tổng trấn, Sim-sai thư ký, và bè lũ của chúng, chúng vội vàng kéo đến Giê-ru-sa-lem để gặp người Do-thái và dùng quyền lực cùng vũ lực bắt buộc họ phải đình chỉ ngay công cuộc tái thiết.

Bản Dịch Mới (NVB)

23Rê-hum, bí thư Sim-sai, và những cộng sự viên vừa nghe đọc xong bản sao tờ chiếu của vua Át-ta-xét-xe, liền hối hả đến Giê-ru-sa-lem, dùng cường quyền cưỡng bức người Do Thái đình chỉ việc xây cất.

Bản Phổ Thông (BPT)

23Một bản sao thư vua gởi được đọc cho Rê-hum, và Sê-sai, thư ký và những người khác. Rồi họ vội vàng đi đến dân Do-thái ở Giê-ru-sa-lem và buộc họ ngưng công tác xây cất.

New International Version (NIV)

24Thus the work on the house of God in Jerusalem came to a standstill until the second year of the reign of Darius king of Persia.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

24Vậy, công việc xây cất nhà của Đức Chúa Trời tại Giê-ru-sa-lem đình cho đến năm thứ hai đời Đa-ri-út, vua Phe-rơ-sơ, trị vì.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

24Thế là công việc xây cất đền thờ của Đức Chúa Trời tại Giê-ru-sa-lem bị đình chỉ cho đến năm thứ hai đời Đa-ri-út, vua Ba Tư, cai trị.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

24Vậy công cuộc tái thiết Ðền Thờ Ðức Chúa Trời tại Giê-ru-sa-lem đã bị ngưng trệ. Việc ấy đã bị gián đoạn mãi cho đến năm thứ hai của triều đại Ða-ri-út vua Ba-tư.

Bản Dịch Mới (NVB)

24Thế là công tác xây cất đền thờ Đức Chúa Trời tại Giê-ru-sa-lem đình lại, và đình trệ luôn cho đến năm thư hai đời Đa-ri-út vua Ba-tư.

Bản Phổ Thông (BPT)

24Vì thế công tác của đền thờ Thượng Đế ở Giê-ru-sa-lem bị ngưng lại cho đến năm thứ hai khi vua Đa-ri-út lên ngôi vua Ba-tư.