So Sánh Bản Dịch(Tối đa 6 bản dịch)


New International Version(NIV)

Bản Truyền Thống 1926(VI1934)

Bản Hiệu Đính Truyền Thống(RVV11)

Bản Dịch 2011(BD2011)

Bản Dịch Mới(NVB)

Bản Phổ Thông(BPT)

New International Version (NIV)

1And he said to me, “Son of man, eat what is before you, eat this scroll; then go and speak to the people of Israel.”

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

1Ngài bèn phán cùng ta rằng: Hỡi con người, hãy ăn vật ngươi thấy; hãy ăn cuốn nầy, rồi đi, và nói cùng nhà Y-sơ-ra-ên.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

1Chúa phán với tôi rằng: “Hỡi con người, hãy ăn vật mà con thấy; hãy ăn cuộn sách nầy rồi đi và nói với nhà Y-sơ-ra-ên.”

Bản Dịch 2011 (BD2011)

1Ngài phán với tôi, “Hãy ăn những gì Ta ban cho ngươi. Hãy ăn cuộn sách nầy, rồi đi, và nói cho nhà I-sơ-ra-ên biết.”

Bản Dịch Mới (NVB)

1Ngài phán cùng tôi: “Hỡi con người, hãy ăn cái gì ngươi thấy, hãy ăn cuộn sách này và đi nói cho nhà Y-sơ-ra-ên.”

Bản Phổ Thông (BPT)

1Rồi CHÚA phán cùng tôi, “Hỡi con người, hãy ăn vật ngươi thấy; hãy ăn cuộn sách nầy. Rồi hãy đi ra nói cùng dân Ít-ra-en.”

New International Version (NIV)

2So I opened my mouth, and he gave me the scroll to eat.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

2Ta mở miệng ra, và Ngài khiến ta ăn cuốn ấy.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

2Tôi mở miệng ra và Ngài khiến tôi ăn cuộn sách ấy.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

2Vậy tôi mở miệng ra, Ngài ban cho tôi cuộn sách để tôi ăn.

Bản Dịch Mới (NVB)

2Tôi mở miệng và ăn cuộn sách ấy.

Bản Phổ Thông (BPT)

2Vậy tôi mở miệng và Ngài trao cho tôi cuộn sách để ăn.

New International Version (NIV)

3Then he said to me, “Son of man, eat this scroll I am giving you and fill your stomach with it.” So I ate it, and it tasted as sweet as honey in my mouth.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

3Ngài phán: Hỡi con người hãy lấy cuốn ta cho ngươi mà khiến bụng ăn và làm đầy ruột. Vậy ta ăn lấy, thì trong miệng ngọt như mật.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

3Ngài phán: “Hỡi con người, hãy lấy cuộn sách Ta cho mà ăn cho no dạ, làm cho đầy bụng.” Vậy tôi ăn vào và thấy trong miệng ngọt như mật.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

3Ngài phán với tôi, “Hỡi con người, hãy ăn cuộn sách Ta ban cho ngươi và hãy làm cho nó đầy bụng ngươi.” Tôi ăn nó, và nó ngọt như mật trong miệng tôi.

Bản Dịch Mới (NVB)

3Ngài phán cùng tôi: “Hỡi con người, hãy ăn cuộn sách này vào bụng, hãy làm cho đầy ruột gan cuộn sách mà Ta ban cho ngươi.” Tôi ăn cuộn sách và nó ngọt như mật trong miệng tôi.

Bản Phổ Thông (BPT)

3Ngài bảo tôi, “Hỡi con người, hãy ăn cuộn sách mà ta trao cho ngươi, cho thật đầy bụng. Vậy tôi ăn cuộn sách đó thì tôi thấy thật ngọt như mật ong trong miệng.”

New International Version (NIV)

4He then said to me: “Son of man, go now to the people of Israel and speak my words to them.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

4Ngài lại phán: Hỡi con người, hãy đi, hãy đến cùng nhà Y-sơ-ra-ên, đem những lời ta thuật lại cho chúng nó.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

4Ngài lại phán: “Hỡi con người, hãy đi đến nhà Y-sơ-ra-ên và truyền những lời Ta cho họ.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

4Ngài phán với tôi, “Hỡi con người, hãy đi đến nhà I-sơ-ra-ên và nói với chúng những lời của Ta.

Bản Dịch Mới (NVB)

4Ngài phán cùng tôi: “Hỡi con người, hãy đi đến nhà Y-sơ-ra-ên và phán cùng chúng các lời của Ta.

Bản Phổ Thông (BPT)

4Rồi Ngài bảo tôi, “Hỡi con người, hãy đi đến cùng dân Ít-ra-en và thuật lại lời ta cho chúng.

New International Version (NIV)

5You are not being sent to a people of obscure speech and strange language, but to the people of Israel—

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

5Vả, ấy chẳng phải ta sai ngươi đến cùng dân nói tiếng mọi rợ khó hiểu; bèn là đến cùng nhà Y-sơ-ra-ên.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

5Ta không sai con đến với một dân ngoại nói tiếng khó hiểu mà đến với nhà Y-sơ-ra-ên.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

5Ta không sai ngươi đến với một dân nói một thứ tiếng lạ và một ngôn ngữ khó hiểu, nhưng đến với nhà I-sơ-ra-ên,

Bản Dịch Mới (NVB)

5Vì ngươi không phải được sai đến cùng một dân tộc ngoại quốc, nói tiếng khó hiểu nhưng đến cùng nhà Y-sơ-ra-ên.

Bản Phổ Thông (BPT)

5Ta không sai ngươi đến cùng một dân nói thứ tiếng mà ngươi không hiểu. Ngươi được sai đến cùng dân Ít-ra-en.

New International Version (NIV)

6not to many peoples of obscure speech and strange language, whose words you cannot understand. Surely if I had sent you to them, they would have listened to you.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

6Thật, chẳng phải ta sai ngươi đến cùng nhiều dân nói tiếng mọi rợ khó hiểu, mà ngươi không thể hiểu lời chúng nó; nếu ta sai ngươi đến cùng chúng nó, chắc chúng nó sẽ nghe ngươi.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

6Cũng không sai con đến với nhiều dân tộc nói tiếng khó hiểu, giọng khó nghe, khiến con không thể hiểu được. Mà giá như Ta sai con đến với họ thì chắc họ sẽ nghe con thôi.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

6không phải đến với những dân nói các thứ tiếng lạ và những ngôn ngữ khó hiểu, mà tiếng nói của chúng ngươi không hiểu được. Nếu Ta sai ngươi đến với chúng, ắt chúng sẽ nghe ngươi.

Bản Dịch Mới (NVB)

6Ngươi không phải được sai đến cùng các dân tộc ngoại quốc, nói tiếng khó hiểu và lời nói của họ ngươi không hiểu được. Nếu Ta sai ngươi đến với chúng nó ắt chúng nó đã nghe ngươi.

Bản Phổ Thông (BPT)

6Ta không sai ngươi đến nhiều dân tộc nói thứ tiếng mà ngươi không hiểu, chữ nghĩa ngươi không biết. Nếu ta sai ngươi đến các dân ấy, chắc chúng nó sẽ nghe ngươi.

New International Version (NIV)

7But the people of Israel are not willing to listen to you because they are not willing to listen to me, for all the Israelites are hardened and obstinate.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

7Nhưng nhà Y-sơ-ra-ên sẽ chẳng nghe ngươi, vì nó không muốn nghe ta; bởi chưng cả nhà Y-sơ-ra-ên đều cứng trán cứng lòng.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

7Nhưng nhà Y-sơ-ra-ên sẽ chẳng nghe con vì họ không muốn nghe Ta. Vì cả nhà Y-sơ-ra-ên đều cứng trán cứng lòng.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

7Nhưng nhà I-sơ-ra-ên sẽ không nghe ngươi đâu, vì chúng chẳng muốn nghe Ta, vì cả nhà I-sơ-ra-ên đều cứng trán và cứng lòng.

Bản Dịch Mới (NVB)

7Nhà Y-sơ-ra-ên sẽ không nghe ngươi vì chúng nó không muốn nghe Ta. Vì cả nhà Y-sơ-ra-ên đều cứng đầu và lòng chai đá.

Bản Phổ Thông (BPT)

7Nhưng dân Ít-ra-en sẽ không chịu nghe ngươi vì chúng không chịu nghe ta. Thật vậy, tất cả dân Ít-ra-en đều ương ngạnh không vâng lời.

New International Version (NIV)

8But I will make you as unyielding and hardened as they are.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

8Nầy, ta làm cho mặt ngươi dạn nghịch cùng mặt chúng nó, trán ngươi cứng nghịch cùng trán chúng nó.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

8Nầy Ta sẽ làm cho mặt của con chai cứng để đối mặt với họ, và trán của con chai cứng để chạm trán với họ.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

8Này, Ta sẽ làm cho mặt ngươi chai cứng để có thể đối phó với mặt chúng, và Ta làm cho trán ngươi thật cứng để có thể đương đầu với trán chúng.

Bản Dịch Mới (NVB)

8Này, Ta sẽ làm mặt ngươi cứng như mặt chúng nó và trán ngươi cứng như trán chúng nó.

Bản Phổ Thông (BPT)

8Thấy không, nay ta khiến ngươi trở nên ương ngạnh như chúng vậy.

New International Version (NIV)

9I will make your forehead like the hardest stone, harder than flint. Do not be afraid of them or terrified by them, though they are a rebellious people.”

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

9Ta làm cho trán ngươi cứng như kim cương, cứng hơn đá lửa. Đừng sợ và đừng run rẩy vì bộ mặt chúng nó, dầu chúng nó là nhà bạn nghịch mặc lòng!

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

9Ta làm cho trán con cứng như kim cương, rắn hơn đá lửa. Đừng sợ hãi họ, cũng đừng run rẩy vì bộ mặt của họ vì họ là nhà nổi loạn.”

Bản Dịch 2011 (BD2011)

9Ta sẽ làm cho trán ngươi cứng hơn đá hoa cương, cứng hơn đá lửa. Ðừng sợ chúng và chớ kinh hãi khi chúng trừng ngó ngươi, vì chúng là nhà phản loạn.”

Bản Dịch Mới (NVB)

9Ta sẽ ban cho ngươi trán cứng như kim cương, cứng hơn đá lửa. Đừng sợ chúng nó, chớ kinh hoảng vì bộ mặt chúng nó, vì chúng là nhà phản nghịch.”

Bản Phổ Thông (BPT)

9Ta làm cho ngươi cứng như kim cương, cứng hơn đá. Đừng sợ cũng đừng kinh hãi chúng dù chúng là dân chống nghịch ta.”

New International Version (NIV)

10And he said to me, “Son of man, listen carefully and take to heart all the words I speak to you.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

10Đoạn, Ngài phán cùng ta rằng: Hỡi con người, hãy nhận vào lòng và nghe vào tai mọi lời ta sẽ phán cùng ngươi.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

10Rồi Ngài phán với tôi rằng: “Hỡi con người, hãy nhận vào lòng và nghe vào tai mọi lời Ta sẽ phán với con.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

10Ngài phán với tôi, “Hỡi con người, tất cả những lời Ta phán với ngươi, ngươi hãy nghe cho kỹ và ghi lòng tạc dạ.

Bản Dịch Mới (NVB)

10Ngài phán cùng tôi: “Hỡi con người, hãy nhận vào lòng và lấy tai nghe tất cả những lời Ta phán cùng ngươi.

Bản Phổ Thông (BPT)

10Ngài cũng phán cùng tôi, “Hỡi con người, hãy tin mọi lời ta phán cùng ngươi, nghe cho thật cẩn thận.

New International Version (NIV)

11Go now to your people in exile and speak to them. Say to them, ‘This is what the Sovereign Lord says,’ whether they listen or fail to listen.”

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

11Hãy đi, đến cùng những kẻ bị đày, cùng các con cái của dân ngươi. Khá nói cùng chúng nó, dầu chúng nó nghe, dầu chẳng khứng nghe, ngươi cũng nói với rằng: Chúa Giê-hô-va có phán như vậy.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

11Hãy đi đến với những người bị lưu đày, đến với đồng bào con và nói với họ rằng ‘Chúa Giê-hô-va phán như vậy,’ cho dù họ có nghe hay không.”

Bản Dịch 2011 (BD2011)

11Sau đó ngươi hãy đến với những kẻ bị lưu đày, đến với đồng bào ngươi, và nói lại với chúng. Hãy bảo chúng rằng, ‘CHÚA Hằng Hữu phán thế nầy,’ bất kể chúng nghe hay không nghe cũng mặc.”

Bản Dịch Mới (NVB)

11Hãy đi đến cùng những người bị lưu đày, đến cùng dân ngươi, hãy phán cùng chúng nó, nói với chúng rằng: CHÚA phán như vầy, dù chúng chịu nghe hay không chịu nghe.”

Bản Phổ Thông (BPT)

11Rồi hãy đi đến dân bị tù đày, tức dân tộc ngươi, bảo chúng rằng, ‘CHÚA là Thượng Đế phán thế nầy. Dù chúng nghe hay không, cứ bảo cho chúng biết.’”

New International Version (NIV)

12Then the Spirit lifted me up, and I heard behind me a loud rumbling sound as the glory of the Lord rose from the place where it was standing.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

12Bấy giờ Thần cất ta lên, và ta nghe có tiếng ào ào rất lớn ở đằng sau ta rằng: Đáng chúc phước cho sự vinh hiển Đức Giê-hô-va từ nơi Ngài!

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

12Bấy giờ Thần cất tôi lên và tôi nghe có tiếng động rất lớn ở đằng sau tôi rằng: “Đáng chúc tụng vinh quang của Đức Giê-hô-va từ nơi Ngài đang ngự!”

Bản Dịch 2011 (BD2011)

12Bấy giờ Thần cất tôi lên, và tôi nghe đằng sau tôi có một tiếng lớn như sấm nổ vang rền –Tôn ngợi vinh hiển của CHÚA trong nơi Ngài ngự–

Bản Dịch Mới (NVB)

12Bấy giờ thần cất tôi lên, tôi nghe phía sau tôi có tiếng động lớn ầm ầm rằng: Đáng chúc tụng sự vinh quang của CHÚA ở nơi Ngài.

Bản Phổ Thông (BPT)

12Sau đó Thần Linh nhấc tôi lên, tôi nghe có tiếng vang động phía sau tôi và sự vinh hiển của CHÚA cất lên từ nơi ấy.

New International Version (NIV)

13It was the sound of the wings of the living creatures brushing against each other and the sound of the wheels beside them, a loud rumbling sound.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

13Ta cũng nghe tiếng cánh của các vật sống đập cái nầy với cái khác, tiếng của những bánh xe kề các vật ấy, và tiếng ào ào rất lớn.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

13Tôi cũng nghe tiếng động do cánh của các sinh vật đập vào nhau, tiếng của những bánh xe bên cạnh các sinh vật ấy và tiếng động rất lớn.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

13đồng thời có tiếng của cánh các sinh vật đập vào nhau, tiếng của các bánh xe quay bên cạnh các sinh vật ấy, và một tiếng lớn như sấm nổ vang rền.

Bản Dịch Mới (NVB)

13Tôi nghe tiếng động lớn ầm ầm, tiếng vỗ cánh của con sinh vật chạm vào nhau và tiếng bánh xe bên hông chúng.

Bản Phổ Thông (BPT)

13Tôi nghe tiếng đập cánh của các con thú và tiếng bánh xe chạy kế bên chúng. Đó là tiếng vang động.

New International Version (NIV)

14The Spirit then lifted me up and took me away, and I went in bitterness and in the anger of my spirit, with the strong hand of the Lord on me.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

14Đoạn, Thần cất ta lên và đem ta đi; ta đi, lòng ta đầy sự cay đắng nóng nảy, tay Đức Giê-hô-va đặt trên ta cách mạnh mẽ.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

14Thần cất tôi lên và đem tôi đi; tôi đi mà lòng đầy cay đắng, giận dữ. Tay Đức Giê-hô-va đặt trên tôi một cách mạnh mẽ.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

14Thần cất tôi lên và đem tôi đi. Tôi đi trong cay đắng, và tâm linh tôi nóng nảy, nhưng tay CHÚA đè mạnh trên tôi.

Bản Dịch Mới (NVB)

14Thần cất tôi lên, đem tôi đi; tôi đi trong lòng cay đắng, tức giận. Tay của CHÚA đặt mạnh trên tôi.

Bản Phổ Thông (BPT)

14Rồi thần linh nhấc tôi lên mang tôi đi. Tôi buồn bực trong lòng, rồi tôi cảm biết quyền lực lớn lao của CHÚA.

New International Version (NIV)

15I came to the exiles who lived at Tel Aviv near the Kebar River. And there, where they were living, I sat among them for seven days—deeply distressed.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

15Ta bèn đi đến Tên-A-bíp cùng những kẻ bị đày ở trên bờ sông Kê-ba. Ta dừng lại nơi họ đương ở, và trú lại giữa họ bảy ngày, buồn rầu lặng lẽ.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

15Tôi đến với những người bị lưu đày ở Tên A-bíp, bên bờ sông Kê-ba. Tôi dừng lại nơi họ đang sinh sống và lưu lại đó với họ trong bảy ngày, lòng đầy buồn rầu.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

15Tôi đã đến Tên A-bíp, nơi những người bị lưu đày đang sống bên bờ Sông Kê-ba. Tôi ngồi tại đó giữa họ và bàng hoàng trong bảy ngày.

Bản Dịch Mới (NVB)

15Tôi đến cùng những người bị lưu đày ở Tên-a-víp, bên bờ kinh Kê-ba là nơi họ định cư; tôi ngồi đó choáng váng đến bảy ngày ở giữa họ.

Bản Phổ Thông (BPT)

15Tôi đi đến chỗ các tù binh bị đày của Giu-đa đang sống bên bờ sông Kê-ba ở Tên-A-bíp. Tôi ngồi ở đó với họ bảy ngày, trong lòng hoang mang.

New International Version (NIV)

16At the end of seven days the word of the Lord came to me:

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

16Khỏi bảy ngày, có lời của Đức Giê-hô-va phán cùng ta như vầy:

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

16Sau bảy ngày ấy, có lời của Đức Giê-hô-va phán với tôi thế nầy:

Bản Dịch 2011 (BD2011)

16Cuối bảy ngày, lời của CHÚA đến với tôi,

Bản Dịch Mới (NVB)

16Cuối bảy ngày, có lời của CHÚA phán cùng tôi:

Bản Phổ Thông (BPT)

16Sau bảy ngày CHÚA lại phán cùng tôi như sau:

New International Version (NIV)

17“Son of man, I have made you a watchman for the people of Israel; so hear the word I speak and give them warning from me.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

17Hỡi con người, ta đã lập ngươi lên đặng canh giữ nhà Y-sơ-ra-ên; khá nghe lời từ miệng ta, và thay ta răn bảo chúng nó.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

17“Hỡi con người, Ta đã lập con làm người canh giữ nhà Y-sơ-ra-ên. Vậy hãy nghe lời từ miệng Ta và thay Ta cảnh cáo họ.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

17“Hỡi con người, Ta lập ngươi làm người canh gác nhà I-sơ-ra-ên. Mỗi khi ngươi nghe lời nào từ miệng Ta phán ra, ngươi phải cảnh cáo chúng cho Ta.

Bản Dịch Mới (NVB)

17“Hỡi con người, Ta đặt ngươi làm người canh giữ nhà Y-sơ-ra-ên. Khi nào ngươi nghe lời Ta phán, hãy cảnh cáo chúng nó cho Ta.

Bản Phổ Thông (BPT)

17“Hỡi con người, nay ta đặt ngươi làm lính tuần canh cho Ít-ra-en. Hễ khi ngươi nghe lời nào từ miệng ta thì hãy cảnh cáo chúng nó.

New International Version (NIV)

18When I say to a wicked person, ‘You will surely die,’ and you do not warn them or speak out to dissuade them from their evil ways in order to save their life, that wicked person will die for their sin, and I will hold you accountable for their blood.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

18Khi ta nói với kẻ dữ rằng: Mầy chắc sẽ chết! --- nếu ngươi không răn bảo nó, không nói với nó đặng khuyên nó từ bỏ đường xấu để cứu mạng mình, thì người dữ đó sẽ chết trong tội lỗi nó; nhưng ta sẽ đòi huyết nó nơi tay ngươi.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

18Khi Ta nói với kẻ dữ: ‘Mầy chắc sẽ chết!’ Nếu con không cảnh cáo nó, không nói với nó, và khuyên nó từ bỏ đường lối xấu xa để cứu mạng mình, thì kẻ dữ đó sẽ chết trong tội lỗi nó, nhưng Ta sẽ đòi máu nó nơi tay con.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

18Nếu Ta bảo kẻ gian ác rằng, ‘Ngươi chắc chắn phải chết,’ và nếu ngươi không cảnh cáo nó hay lên tiếng khuyến cáo kẻ gian ác phải lìa bỏ đường lối ác của nó để cứu mạng nó, kẻ gian ác đó ắt sẽ chết trong tội lỗi nó, nhưng Ta sẽ đòi máu nó nơi tay ngươi.

Bản Dịch Mới (NVB)

18Khi Ta phán với kẻ ác rằng: Ngươi chắc sẽ chết nhưng ngươi không cảnh cáo nó, không nói lời cảnh cáo kẻ ác để nó tránh con đường ác hầu được sống. Kẻ ác đó sẽ chết vì tội lỗi nó nhưng Ta sẽ đòi máu nó nơi tay ngươi.

Bản Phổ Thông (BPT)

18Khi ta bảo kẻ ác rằng, ‘Ngươi chắc sẽ chết,’ thì ngươi phải cảnh cáo chúng để chúng sống. Còn nếu ngươi không cảnh cáo kẻ ác để chúng bỏ lối ác thì chúng sẽ chết trong tội lỗi mình nhưng ta sẽ bắt ngươi chịu trách nhiệm về cái chết của chúng.

New International Version (NIV)

19But if you do warn the wicked person and they do not turn from their wickedness or from their evil ways, they will die for their sin; but you will have saved yourself.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

19Trái lại, nếu ngươi răn bảo kẻ dữ, mà nó không từ bỏ sự dữ cùng đường xấu mình, thì nó sẽ chết trong tội lỗi nó; còn ngươi, thì giải cứu được linh hồn mình.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

19Trái lại, nếu con cảnh cáo kẻ dữ mà nó không từ bỏ điều dữ cùng đường lối gian ác mình, thì nó sẽ chết trong tội lỗi nó, nhưng con sẽ giải cứu được linh hồn mình.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

19Nhưng nếu ngươi cảnh cáo kẻ gian ác, và nó không lìa bỏ việc gian ác của nó, hay lìa bỏ đường lối ác của nó, nó sẽ chết trong tội lỗi nó, nhưng ngươi sẽ cứu được mạng sống mình.

Bản Dịch Mới (NVB)

19Nhưng nếu ngươi cảnh cáo kẻ ác mà nó không từ bỏ điều ác cùng đường dữ, nó sẽ chết vì tội lỗi nó, nhưng ngươi được thoát mạng.

Bản Phổ Thông (BPT)

19Nhưng nếu ngươi cảnh cáo kẻ ác mà chúng không từ bỏ điều ác hay lối ác của chúng thì chúng sẽ chết trong tội lỗi chúng nhưng ngươi cứu được mạng mình.

New International Version (NIV)

20“Again, when a righteous person turns from their righteousness and does evil, and I put a stumbling block before them, they will die. Since you did not warn them, they will die for their sin. The righteous things that person did will not be remembered, and I will hold you accountable for their blood.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

20Cũng một lẽ ấy, nếu người công bình bỏ sự công bình mà phạm tội, và ta đặt sự ngăn trở trước mặt nó, thì nó sẽ chết. Thế thì, vì ngươi không răn bảo người ấy, nên nó sẽ chết trong tội lỗi nó, và không còn được ghi nhớ những việc công bình nó đã làm; nhưng ta sẽ đòi huyết nó nơi tay ngươi.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

20Cũng một lẽ ấy, nếu người công chính bỏ sự công chính mà phạm tội và Ta đặt sự ngăn trở trước mặt nó, thì nó sẽ chết. Vì con không cảnh cáo nó nên nó sẽ chết vì tội lỗi nó, và những việc công chính mà nó đã làm không được nhớ đến, nhưng Ta sẽ đòi máu nó nơi tay con.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

20Nếu người ngay lành lìa bỏ việc ngay lành của nó mà phạm tội, Ta sẽ đặt một vật làm vấp ngã trước mặt nó, nó sẽ chết, bởi vì ngươi không cảnh cáo nó, nó sẽ chết trong tội lỗi nó, và việc ngay lành của nó sẽ không còn được nhớ đến nữa, nhưng Ta sẽ đòi máu nó nơi tay ngươi.

Bản Dịch Mới (NVB)

20Khi một người công chính từ bỏ công chính và phạm tội; Ta sẽ đặt chướng ngại trước mặt nó và người ấy sẽ chết vì tội lỗi. Nhưng ngươi không cảnh cáo nó; việc công chính người ấy đã làm sẽ không còn được nhớ đến, nhưng Ta sẽ đòi máu nó nơi tay ngươi.

Bản Phổ Thông (BPT)

20Ngoài ra, kẻ làm điều phải có thể lìa bỏ lẽ phải và làm điều ác. Nếu ta giáng điều chẳng lành đến cho chúng, chúng sẽ chết. Vì ngươi không cảnh cáo chúng, chúng sẽ chết trong tội lỗi mình, những điều lành mà chúng làm sẽ không được nhớ đến nữa. Nhưng ta bắt ngươi chịu trách nhiệm về cái chết của chúng.

New International Version (NIV)

21But if you do warn the righteous person not to sin and they do not sin, they will surely live because they took warning, and you will have saved yourself.”

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

21Trái lại, nếu ngươi răn bảo người công bình khiến đừng phạm tội, mà thật ra nó không phạm tội, thì chắc nó sẽ sống, vì đã nghe lời răn bảo; còn ngươi, thì giải cứu được linh hồn mình.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

21Trái lại, nếu con cảnh cáo người công chính đừng phạm tội, và người ấy không phạm tội thì chắc chắn người ấy sẽ sống vì đã nghe lời cảnh cáo, và con sẽ giải cứu được linh hồn mình.”

Bản Dịch 2011 (BD2011)

21Tuy nhiên, nếu ngươi cảnh cáo người ngay lành, khuyến cáo nó đừng phạm tội, và nó không phạm tội, nó chắc chắn sẽ được sống, bởi vì nó nghe theo lời cảnh cáo, và ngươi sẽ cứu được mạng sống mình.”

Bản Dịch Mới (NVB)

21Nếu ngươi cảnh cáo người công chính đừng phạm tội; người ấy không phạm tội nên sẽ sống vì đã nghe lời cảnh cáo, còn ngươi được thoát mạng.”

Bản Phổ Thông (BPT)

21Nhưng nếu ngươi đã cảnh cáo những người tốt ấy đừng phạm tội, rồi họ không phạm tội, thì họ được sống vì tin lời cảnh cáo của ngươi. Như thế ngươi sẽ cứu được mạng mình.”

New International Version (NIV)

22The hand of the Lord was on me there, and he said to me, “Get up and go out to the plain, and there I will speak to you.”

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

22Tại đó, tay Đức Giê-hô-va ở trên ta, và Ngài phán cùng ta rằng: Hãy chờ dậy, đi trong nơi đồng bằng, tại đó ta sẽ phán cùng ngươi.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

22Tại đó, tay Đức Giê-hô-va đặt trên tôi và Ngài phán với tôi rằng: “Hãy mau mau đi vào đồng bằng, tại đó Ta sẽ phán với con.”

Bản Dịch 2011 (BD2011)

22Tay CHÚA đặt trên tôi tại đó. Ngài phán với tôi, “Hãy đứng dậy và đi vào thung lũng, rồi Ta sẽ phán với ngươi tại đó.”

Bản Dịch Mới (NVB)

22Tay CHÚA đặt trên tôi và Ngài phán với tôi: “Hãy đứng dậy, đi ra ngoài cánh đồng và tại đó Ta sẽ phán với ngươi.”

Bản Phổ Thông (BPT)

22Rồi tôi cảm biết quyền năng của CHÚA tại đó. Ngài phán cùng tôi, “Hãy đứng dậy đi ra thung lũng. Ta sẽ phán cùng ngươi ở đó.”

New International Version (NIV)

23So I got up and went out to the plain. And the glory of the Lord was standing there, like the glory I had seen by the Kebar River, and I fell facedown.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

23Vậy ta chờ dậy và ra đi trong đồng bằng. Nầy, sự vinh hiển Đức Giê-hô-va đứng đó, như sự vinh hiển ta đã thấy trên bờ sông Kê-ba. Ta bèn ngã sấp mặt xuống,

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

23Vậy tôi lập tức đi vào đồng bằng. Và tại đó, tôi thấy vinh quang Đức Giê-hô-va hiện diện giống như vinh quang mà tôi đã thấy trên bờ sông Kê-ba. Tôi liền sấp mặt xuống đất.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

23Vậy tôi đứng dậy và đi vào thung lũng. Kìa, vinh quang của CHÚA đang đứng tại đó, giống như vinh quang tôi đã thấy bên bờ Sông Kê-ba. Thấy vậy tôi liền sấp mặt xuống đất.

Bản Dịch Mới (NVB)

23Tôi đứng dậy và đi ra ngoài cánh đồng. Kìa vinh quang của CHÚA ở tại đó, như vinh quang mà tôi đã thấy bên bờ kinh Kê-ba, tôi cúi mặt xuống.

Bản Phổ Thông (BPT)

23Vậy tôi đứng dậy đi ra đồng trống. Tôi thấy vinh quang CHÚA ở đó, giống như vinh quang tôi đã thấy bên bờ sông Kê-ba. Tôi liền sấp mặt xuống đất.

New International Version (NIV)

24Then the Spirit came into me and raised me to my feet. He spoke to me and said: “Go, shut yourself inside your house.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

24thì Thần vào trong ta, làm cho chân ta đứng lên. Đoạn, Ngài phán cùng ta, và bảo rằng: Hãy đi, giam mình trong nhà ngươi.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

24Nhưng Thần vào trong tôi làm cho chân tôi đứng lên. Rồi Ngài phán với tôi rằng: “Hãy đi, giam mình trong nhà con.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

24Thần nhập vào tôi, làm cho tôi đứng dậy trên chân mình. Ngài phán với tôi và bảo tôi, “Hãy đi về, giam mình trong nhà ngươi.

Bản Dịch Mới (NVB)

24Thần vào trong tôi, nâng tôi đứng lên trên chân và phán bảo tôi: “Hãy vào và giam mình trong nhà.

Bản Phổ Thông (BPT)

24Rồi Thần Linh nhập vào tôi, khiến tôi đứng lên. Ngài phán cùng tôi, “Hãy đi giam mình trong nhà ngươi.

New International Version (NIV)

25And you, son of man, they will tie with ropes; you will be bound so that you cannot go out among the people.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

25Hỡi con người, nầy, người ta sẽ lấy dây trói ngươi và ngươi không thể đi ra giữa chúng nó.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

25Hỡi con người, nầy người ta sẽ lấy dây trói con lại và con không thể đi ra gặp họ.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

25Về phần ngươi, hỡi con người, người ta sẽ lấy dây thừng trói ngươi lại, và ngươi sẽ bị chúng trói lại để không thể đi ra gặp đồng bào của ngươi được.

Bản Dịch Mới (NVB)

25Hỡi con người, này, chúng nó sẽ cột ngươi bằng dây, ngươi sẽ bị cột với chúng nó và không thể đi ra giữa chúng nó.

Bản Phổ Thông (BPT)

25Về phần ngươi, hỡi con người, họ sẽ lấy dây thừng trói ngươi lại để ngươi không có thể đi ra cùng chúng được.

New International Version (NIV)

26I will make your tongue stick to the roof of your mouth so that you will be silent and unable to rebuke them, for they are a rebellious people.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

26Ta sẽ khiến lưỡi ngươi dính với cuống họng ngươi: ngươi sẽ câm, không quở trách chúng nó được; vì chúng nó là nhà bạn nghịch.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

26Ta sẽ khiến lưỡi con dính vào vòm miệng; con sẽ câm, không quở trách họ được vì họ là nhà nổi loạn.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

26Ta sẽ làm cho lưỡi ngươi dính nơi hốc miệng ngươi, để ngươi không thể nói được, hầu ngươi không thể khiển trách chúng, vì chúng là nhà phản loạn.

Bản Dịch Mới (NVB)

26Lưỡi ngươi sẽ dính vào hàm và ngươi sẽ câm; ngươi sẽ không còn là người quở trách chúng nó nữa vì chúng nó là nhà phản nghịch.

Bản Phổ Thông (BPT)

26Ngoài ra ta sẽ khiến cho lưỡi ngươi dính nơi vòm họng để ngươi không nói được. Ngươi sẽ không thể biện bác với chúng, mặc dù chúng chống nghịch ta.

New International Version (NIV)

27But when I speak to you, I will open your mouth and you shall say to them, ‘This is what the Sovereign Lord says.’ Whoever will listen let them listen, and whoever will refuse let them refuse; for they are a rebellious people.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

27Nhưng khi ta phán cùng ngươi, ta sẽ mở miệng ngươi, và ngươi khá bảo chúng nó rằng: Chúa Giê-hô-va phán như vầy: Ai nghe, hãy nghe; ai không nghe, thì đừng nghe! Vì chúng nó là nhà bạn nghịch.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

27Nhưng khi Ta phán với con, Ta sẽ mở miệng con và con sẽ bảo họ rằng: ‘Chúa Giê-hô-va phán thế nầy: Ai muốn nghe, hãy nghe; ai không muốn nghe, thì đừng nghe! Vì họ là nhà nổi loạn.’”

Bản Dịch 2011 (BD2011)

27Nhưng khi nào Ta phán với ngươi, Ta sẽ mở miệng ngươi, bấy giờ ngươi sẽ nói với chúng, ‘CHÚA Hằng Hữu phán thế nầy.’ Hễ ai muốn nghe thì nghe, còn ai không muốn nghe cứ để chúng từ chối lắng nghe, vì chúng là nhà phản loạn.”

Bản Dịch Mới (NVB)

27Nhưng khi Ta phán với ngươi, Ta sẽ mở miệng ngươi và ngươi hãy phán cùng chúng nó: ‘CHÚA phán như vầy,’ ai chịu nghe, hãy nghe; ai không chịu nghe, sẽ không nghe. Vì chúng nó là nhà phản nghịch.

Bản Phổ Thông (BPT)

27Nhưng khi ta phán cùng ngươi, ta sẽ mở miệng ngươi ra, rồi ngươi sẽ bảo chúng rằng, ‘CHÚA là Thượng Đế phán thế nầy.’ Ai muốn nghe thì nghe. Ai không nghe thì mặc kệ vì chúng là dân chống nghịch ta.”