So Sánh Bản Dịch(Tối đa 6 bản dịch)


New International Version(NIV)

Bản Truyền Thống 1926(VI1934)

Bản Hiệu Đính Truyền Thống(RVV11)

Bản Dịch 2011(BD2011)

Bản Dịch Mới(NVB)

Bản Phổ Thông(BPT)

New International Version (NIV)

1The word of the Lord came to me:

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

1Có lời Đức Giê-hô-va phán cùng ta rằng:

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

1Có lời Đức Giê-hô-va phán với tôi:

Bản Dịch 2011 (BD2011)

1Lời của CHÚA đến với tôi,

Bản Dịch Mới (NVB)

1Lời của CHÚA phán với tôi:

Bản Phổ Thông (BPT)

1CHÚA phán cùng tôi rằng:

New International Version (NIV)

2“Son of man, speak to your people and say to them: ‘When I bring the sword against a land, and the people of the land choose one of their men and make him their watchman,

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

2Hỡi con người, hãy nói cùng con cái dân ngươi mà rằng: khi ta sai gươm đến trên một đất nào, và dân đất ấy chọn một người trong chúng nó để đặt làm kẻ canh giữ,

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

2“Hỡi con người, hãy nói với dân tộc con và cảnh báo họ rằng: ‘Khi Ta sai gươm đến trên một đất nào và dân đất ấy chọn một người trong chúng để làm người canh gác;

Bản Dịch 2011 (BD2011)

2“Hỡi con người, hãy nói với dân tộc ngươi, nếu Ta sai gươm đao đến trên xứ nào, dân trong xứ đó phải chọn một kẻ làm người canh gác.

Bản Dịch Mới (NVB)

2“Hỡi con người, hãy nói với con cái dân ngươi rằng: ‘Khi Ta đem gươm giáo đến một xứ và người xứ ấy cử một người ở giữa họ làm người canh gác.

Bản Phổ Thông (BPT)

2“Hỡi con người, hãy nói cùng dân chúng ngươi rằng: ‘Nếu ta mang chiến tranh đến trong một xứ thì dân xứ đó có thể chọn một người làm lính gác.

New International Version (NIV)

3and he sees the sword coming against the land and blows the trumpet to warn the people,

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

3nếu người nầy thấy gươm đến trong đất, thì thổi kèn để rao bảo dân sự.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

3người ấy thấy gươm đến trong đất thì thổi kèn để cảnh báo dân chúng.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

3Khi người canh gác thấy gươm đao vừa đến trong xứ, thì nó phải thổi kèn và báo động cho dân.

Bản Dịch Mới (NVB)

3Khi người thấy gươm giáo đến trong xứ thì thổi kèn lên cảnh cáo dân chúng.

Bản Phổ Thông (BPT)

3Khi nó thấy kẻ thù kéo đến tấn công xứ thì sẽ thổi kèn báo động cho dân chúng.

New International Version (NIV)

4then if anyone hears the trumpet but does not heed the warning and the sword comes and takes their life, their blood will be on their own head.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

4Bấy giờ, hễ ai nghe tiếng kèn mà không chịu răn bảo, và nếu gươm đến bắt lấy nó, thì máu của người ấy sẽ đổ lại trên đầu nó;

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

4Nếu ai nghe tiếng kèn mà không chịu nghe lời cảnh báo, và gươm đến bắt lấy nó thì máu của nó sẽ đổ lại trên đầu nó.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

4Nếu ai nghe tiếng kèn mà không chịu đề cao cảnh giác, đến nỗi để gươm đao đến giết mình, thì máu nó sẽ đổ lại trên đầu nó.

Bản Dịch Mới (NVB)

4Bấy giờ, hễ ai nghe tiếng kèn nhưng không cảnh giác, để gươm giáo đến cất mạng sống mình đi, thì máu nó lại đổ trên đầu nó.

Bản Phổ Thông (BPT)

4Nếu chúng nghe tiếng kèn mà không chuẩn bị gì cả thì kẻ thù sẽ kéo đến giết chúng. Chúng sẽ chịu trách nhiệm về cái chết của mình.

New International Version (NIV)

5Since they heard the sound of the trumpet but did not heed the warning, their blood will be on their own head. If they had heeded the warning, they would have saved themselves.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

5vì nó có nghe tiếng kèn mà không chịu răn bảo, vậy máu nó sẽ đổ lại trên nó; nhưng nếu nó chịu răn bảo thì cứu được mạng sống mình.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

5Vì nó đã nghe tiếng kèn mà không cảnh giác nên máu của nó sẽ đổ lại trên nó. Nhưng nếu nó chịu nghe lời cảnh báo thì cứu được mạng sống mình.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

5Vì nó đã nghe tiếng báo động nhưng không chịu đề cao cảnh giác, nên máu nó sẽ đổ lại trên nó, vì nếu nó chịu đề cao cảnh giác, nó đã có thể bảo toàn được mạng sống của nó rồi.

Bản Dịch Mới (NVB)

5Người đã nghe tiếng kèn nhưng không cảnh giác, nên máu nó sẽ đổ trên nó. Nhưng ai cảnh giác sẽ cứu được mạng sống mình.

Bản Phổ Thông (BPT)

5Vì chúng đã nghe tiếng kèn mà không làm gì cả cho nên chúng phải chịu trách nhiệm về cái chết mình. Nếu chúng đã chuẩn bị thì chắc hẳn đã cứu được mạng sống mình.

New International Version (NIV)

6But if the watchman sees the sword coming and does not blow the trumpet to warn the people and the sword comes and takes someone’s life, that person’s life will be taken because of their sin, but I will hold the watchman accountable for their blood.’

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

6Nhưng nếu kẻ canh giữ thấy gươm đến mà không thổi kèn, đến nỗi dân sự chẳng được răn bảo, và gươm đến mà cất sự sống của người nầy hoặc người kia đi, thì người đó sẽ chết trong sự gian ác mình; song ta sẽ đòi lại máu nó nơi người canh giữ.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

6Trái lại, nếu người canh gác thấy gươm đến mà không thổi kèn để cảnh báo dân chúng, nên gươm đến cướp mạng sống của một người nào đó thì người đó sẽ chết trong sự gian ác mình, nhưng Ta sẽ đòi máu nó nơi tay người canh gác.’

Bản Dịch 2011 (BD2011)

6Ngược lại, nếu người canh gác thấy gươm đao đến mà không thổi kèn, và dân không được báo động, rồi gươm đao đến cất mạng sống của ai đi, thì người ấy sẽ chết trong tội lỗi nó, nhưng Ta sẽ đòi máu nó nơi tay người canh gác.

Bản Dịch Mới (NVB)

6Nếu người canh gác thấy gươm giáo đến nhưng không thổi kèn nên dân không được cảnh giác và gươm giáo đến cất đi mạng sống của một người nào thì người đó chết vì tội lỗi của mình; nhưng Ta sẽ đòi nợ máu nơi tay người canh gác.’

Bản Phổ Thông (BPT)

6Nhưng nếu nó thấy quân thù đến tấn công mà không thổi kèn, dân chúng không được cảnh cáo trước cho nên nếu quân thù đến giết ai thì họ sẽ chết vì tội lỗi mình nhưng ta sẽ bắt người lính gác chịu trách nhiệm về cái chết ấy.’

New International Version (NIV)

7“Son of man, I have made you a watchman for the people of Israel; so hear the word I speak and give them warning from me.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

7Nầy, hỡi con người, ta đã lập ngươi đặng làm kẻ canh giữ cho nhà Y-sơ-ra-ên; nên hãy nghe lời từ miệng ta, và thay ta răn bảo trước cho chúng nó.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

7Nầy hỡi con người, Ta đã lập con làm người canh gác cho nhà Y-sơ-ra-ên, nên hãy nghe lời từ miệng Ta và thay Ta mà cảnh cáo chúng.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

7Vậy, hỡi con người, Ta đã lập ngươi làm người canh gác nhà I-sơ-ra-ên. Mỗi khi ngươi nghe lời nào từ miệng Ta, ngươi phải thay Ta cảnh cáo nó.

Bản Dịch Mới (NVB)

7Còn ngươi, hỡi con người, Ta cử ngươi làm người canh gác cho nhà Y-sơ-ra-ên, vậy hãy nghe lời từ miệng Ta và thay Ta cảnh giác chúng nó.

Bản Phổ Thông (BPT)

7Cho nên, hỡi con người, ta đã đặt ngươi làm người lính gác cho Ít-ra-en. Nếu ngươi nghe lời từ miệng ta, ngươi phải cảnh cáo chúng cho ta.

New International Version (NIV)

8When I say to the wicked, ‘You wicked person, you will surely die,’ and you do not speak out to dissuade them from their ways, that wicked person will die for their sin, and I will hold you accountable for their blood.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

8Khi ta phán cùng kẻ dữ rằng: Hỡi kẻ dữ, mầy chắc chết! Nếu ngươi không răn bảo để cho kẻ dữ xây bỏ đường lối xấu của nó, thì kẻ dữ ấy sẽ chết trong sự gian ác mình; nhưng ta sẽ đòi máu nó nơi tay ngươi.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

8Khi Ta phán cùng kẻ dữ rằng: ‘Hỡi kẻ dữ, ngươi chắc chắn sẽ chết!’ Nếu con không cảnh cáo kẻ dữ phải từ bỏ đường lối xấu xa của nó, thì kẻ dữ ấy sẽ chết trong sự gian ác mình, nhưng Ta sẽ đòi máu nó nơi tay con.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

8Nếu Ta nói với kẻ gian ác rằng, ‘Hỡi kẻ gian ác, ngươi phải chết.’ Nếu ngươi không cảnh cáo kẻ gian ác để nó lìa bỏ đường lối nó, thì kẻ gian ác ấy sẽ chết trong tội lỗi nó, nhưng ta sẽ đòi máu nó nơi tay ngươi.

Bản Dịch Mới (NVB)

8Khi Ta phán với kẻ ác: ‘Hỡi kẻ gian ác, ngươi chắc chắn sẽ chết’, nhưng ngươi không cảnh cáo để kẻ ác từ bỏ con đường của nó thì kẻ ác đó sẽ chết trong tội lỗi nó nhưng Ta sẽ đòi máu nó nơi tay ngươi.

Bản Phổ Thông (BPT)

8Nếu ta bảo kẻ ác rằng: ‘Hỡi kẻ ác, ngươi chắc chắn sẽ chết,’ nhưng ngươi lại không nói gì cả để cảnh cáo nó đừng làm ác nữa. Như thế nó sẽ chết vì tội lỗi nó nhưng ta sẽ bắt ngươi chịu trách nhiệm về cái chết của nó.

New International Version (NIV)

9But if you do warn the wicked person to turn from their ways and they do not do so, they will die for their sin, though you yourself will be saved.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

9Nếu, trái lại, ngươi đã răn bảo kẻ dữ đặng xây bỏ đường lối xấu của nó mà nó không xây bỏ, thì nó sẽ chết trong sự gian ác nó, còn ngươi đã giải cứu mạng sống mình.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

9Ngược lại, nếu con đã cảnh cáo kẻ dữ phải từ bỏ đường lối xấu xa của nó mà nó không chịu từ bỏ, thì nó sẽ chết trong sự gian ác nó nhưng con đã giải cứu mạng sống mình.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

9Nhưng nếu ngươi đã cảnh cáo kẻ gian ác để nó lìa bỏ đường lối của nó, nhưng nó không chịu lìa bỏ đường lối của nó, kẻ gian ác ấy sẽ chết trong tội lỗi nó, còn ngươi, ngươi sẽ cứu được mạng mình.”

Bản Dịch Mới (NVB)

9Còn ngươi, nếu ngươi cảnh cáo kẻ ác để nó quay trở lại khỏi con đường ác nhưng nó không chịu quay trở lại thì nó sẽ chết vì tội lỗi của nó, nhưng ngươi sẽ cứu được mạng sống mình.

Bản Phổ Thông (BPT)

9Nhưng nếu ngươi đã cảnh cáo kẻ ác để đừng làm ác nữa mà nó vẫn cứ làm ác thì nó sẽ chết vì tội lỗi mình nhưng ngươi thì cứu được mạng mình.

New International Version (NIV)

10“Son of man, say to the Israelites, ‘This is what you are saying: “Our offenses and sins weigh us down, and we are wasting away because of them. How then can we live?” ’

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

10Hỡi con người, hãy nói cùng nhà Y-sơ-ra-ên rằng: Các ngươi nói như vầy mà rằng: Vì gian ác và tội lỗi chúng tôi chất nặng trên chúng tôi, và chúng tôi, hao mòn vì cớ nó thì thế nào chúng tôi còn sống được?

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

10Hỡi con người, hãy nói với nhà Y-sơ-ra-ên rằng: ‘Các ngươi nói: Vì sự gian ác và tội lỗi chúng tôi chất nặng trên chúng tôi khiến chúng tôi hao mòn vì nó; làm sao chúng tôi có thể sống được?’

Bản Dịch 2011 (BD2011)

10“Nầy, hỡi con người, ngươi hãy nói với nhà I-sơ-ra-ên rằng, ‘Như các ngươi đã nói, “Các vi phạm và tội lỗi của chúng tôi đè nặng trên chúng tôi. Chúng tôi bị kiệt quệ và tiêu hao vì chúng. Làm sao chúng tôi có thể sống nổi?”’

Bản Dịch Mới (NVB)

10Hỡi con người, ngươi hãy nói với nhà Y-sơ-ra-ên: ‘Các ngươi nói rằng: “Những vi phạm và tội lỗi chúng tôi đè nặng trên chúng tôi, chúng tôi chết mòn vì chúng, làm thế nào chúng tôi sống được?” ’

Bản Phổ Thông (BPT)

10Cho nên, hỡi con người, ngươi hãy bảo dân Ít-ra-en rằng: ‘Các ngươi đã nói: Dĩ nhiên chúng tôi biết những vi phạm luật lệ và tội lỗi làm tổn hại chúng tôi. Chúng sẽ giết chúng tôi nhưng chúng tôi phải làm thế nào để được sống?’

New International Version (NIV)

11Say to them, ‘As surely as I live, declares the Sovereign Lord, I take no pleasure in the death of the wicked, but rather that they turn from their ways and live. Turn! Turn from your evil ways! Why will you die, people of Israel?’

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

11Hãy nói cùng chúng nó rằng: Chúa Giê-hô-va phán: Thật như ta hằng sống, ta chẳng lấy sự kẻ dữ chết làm vui, nhưng vui về nó xây bỏ đường lối mình và được sống. Các ngươi khá xây bỏ, xây bỏ đường lối xấu của mình. Sao các ngươi muốn chết, hỡi nhà Y-sơ-ra-ên?

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

11Hãy nói với chúng rằng: ‘Chúa Giê-hô-va phán: Thật như Ta hằng sống, Ta chẳng vui về sự chết của kẻ dữ, nhưng vui vì nó từ bỏ đường lối mình và được sống. Các ngươi hãy từ bỏ, từ bỏ đường lối xấu xa của mình đi! Sao các ngươi muốn chết, hỡi nhà Y-sơ-ra-ên?’

Bản Dịch 2011 (BD2011)

11Ngươi hãy nói với chúng, ‘Ta là CHÚA Hằng Hữu. Ta lấy mạng sống của Ta mà thề rằng, “Ta không vui khi thấy kẻ gian ác phải chết, nhưng Ta vui khi thấy nó lìa bỏ đường lối gian ác của nó và sống. Hãy quay lại, hãy quay khỏi các con đường gian ác của các ngươi. Hỡi nhà I-sơ-ra-ên, tại sao các ngươi muốn chết?”’

Bản Dịch Mới (NVB)

11Hãy nói với chúng nó: ‘Như Ta hằng sống, CHÚA Toàn Năng tuyên bố: Ta chẳng vui vẻ gì về cái chết của kẻ ác, nhưng vui khi nó quay trở lại khỏi đường ác và sống. Hãy quay trở lại, hãy quay trở lại khỏi con đường ác của các ngươi. Hỡi nhà Y-sơ-ra-ên, tại sao ngươi phải chết?’

Bản Phổ Thông (BPT)

11Hãy bảo chúng rằng: ‘CHÚA là Thượng Đế phán: Thật như ta hằng sống, ta không muốn thấy kẻ ác nào chết cả. Ta muốn chúng thôi làm ác và được sống. Thôi, hãy ngưng việc ác của các ngươi đi! Hỡi Ít-ra-en, các ngươi không muốn chết phải không?’

New International Version (NIV)

12“Therefore, son of man, say to your people, ‘If someone who is righteous disobeys, that person’s former righteousness will count for nothing. And if someone who is wicked repents, that person’s former wickedness will not bring condemnation. The righteous person who sins will not be allowed to live even though they were formerly righteous.’

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

12Hỡi con người, khá nói cùng con cái của dân ngươi rằng: Sự công bình của người công bình sẽ không cứu được nó trong ngày nó phạm tội, và sự dữ của kẻ dữ sẽ không làm cho nó sa ngã nơi ngày nó đã xây bỏ sự dữ ấy, cũng như người công bình sẽ không nhờ sự công bình đã qua rồi mà sống được nơi ngày mình phạm tội.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

12Về phần con, hỡi con người, hãy nói với dân tộc con rằng: Sự công chính của người công chính sẽ không cứu được nó khi nó phạm tội, và sự dữ của kẻ dữ sẽ không làm cho nó sa ngã một khi nó đã từ bỏ điều dữ ấy. Người công chính sẽ không nhờ sự công chính vốn có của mình mà được sống trong ngày mình phạm tội.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

12Còn ngươi, hỡi con người, hãy nói với dân ngươi rằng, ‘Ðức công chính của người ngay lành sẽ không cứu được nó khi nó phạm tội, và sự gian ác của kẻ tội lỗi sẽ không làm cho nó ngã chết khi nó ăn năn lìa bỏ những gì gian ác. Người ngay lành khi phạm tội sẽ không thể sống nhờ vào đức công chính của nó đã có trong quá khứ.

Bản Dịch Mới (NVB)

12Còn ngươi, hỡi con người, hãy nói với dân ngươi: ‘Sự công chính của người công chính sẽ không cứu được người trong ngày người phạm tội. Sự gian ác của kẻ ác không làm cho người sa ngã trong ngày người quay trở lại khỏi đường ác của mình; người công chính không thể sống nhờ sự công chính của mình trong ngày người phạm tội.’

Bản Phổ Thông (BPT)

12Hỡi con người, hãy bảo dân ngươi rằng: ‘Những điều tốt của những kẻ làm phải sẽ không cứu chúng được khi chúng phạm tội. Những điều ác của kẻ ác sẽ không khiến chúng bị phạt khi chúng thôi làm điều ác. Nếu người lành phạm tội thì việc lành nó làm trước kia cũng không cứu nó được.’

New International Version (NIV)

13If I tell a righteous person that they will surely live, but then they trust in their righteousness and do evil, none of the righteous things that person has done will be remembered; they will die for the evil they have done.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

13Dầu mà ta có nói với người công bình rằng nó chắc sẽ sống, nếu nó cậy sự công bình mình mà phạm tội, thì sẽ không nhớ đến một việc công bình nào của nó nữa; nhưng nó sẽ chết trong sự gian ác mình đã phạm.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

13Dù Ta có nói với người công chính rằng nó chắc chắn sẽ sống, tuy nhiên, nếu nó cậy sự công chính mình mà phạm tội, thì chẳng có một việc công chính nào của nó được nhớ đến nhưng nó sẽ chết trong sự gian ác mình đã phạm.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

13Dầu trước kia Ta có nói với người ngay lành rằng, “Ngươi sẽ sống,” nhưng nếu nó cậy vào đức công chính của nó mà phạm tội, thì không một việc công chính nào nó đã làm sẽ được nhớ đến nữa, nhưng vì cớ tội lỗi nó mới phạm, nó phải chết.

Bản Dịch Mới (NVB)

13Khi Ta nói với người công chính rằng, chắc chắn ngươi sẽ sống, nhưng vì cậy sự công chính của mình, nó phạm tội, thì tất cả sự công chính của nó sẽ không được nhớ đến nữa và nó sẽ chết vì tội lỗi đã phạm.

Bản Phổ Thông (BPT)

13Nếu ta bảo người tốt rằng, ‘Ngươi chắc chắn sẽ sống,’ chúng sẽ nghĩ rằng chúng đã đủ tốt rồi cho nên sẽ làm điều ác. Như thế thì chẳng có điều tốt gì chúng làm mà được ghi nhớ cả. Chúng sẽ chết vì điều ác mình.

New International Version (NIV)

14And if I say to a wicked person, ‘You will surely die,’ but they then turn away from their sin and do what is just and right—

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

14Khi ta nói cùng kẻ dữ rằng: Mầy chắc chết! Nếu kẻ dữ ấy xây bỏ tội lỗi mình, theo luật pháp và hiệp với lẽ thật;

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

14Khi Ta nói với kẻ dữ rằng: ‘Ngươi chắc chắn sẽ chết!’ Nếu kẻ dữ ấy từ bỏ tội lỗi và làm điều công bình, chính trực;

Bản Dịch 2011 (BD2011)

14Dầu Ta đã nói với kẻ gian ác rằng, “Ngươi phải chết,” nhưng nếu nó lìa bỏ tội lỗi của nó và sống theo luật pháp và lẽ công chính –

Bản Dịch Mới (NVB)

14Khi Ta nói với kẻ ác: ‘Chắc chắn ngươi sẽ chết,’ nhưng nó từ bỏ tội lỗi, làm điều công bình và công chính;

Bản Phổ Thông (BPT)

14Hay nếu ta bảo kẻ ác rằng, ‘Ngươi chắc chắn sẽ chết,’ nó nghe vậy nên không làm điều ác nữa mà làm điều ngay thẳng lương thiện.

New International Version (NIV)

15if they give back what they took in pledge for a loan, return what they have stolen, follow the decrees that give life, and do no evil—that person will surely live; they will not die.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

15nếu nó trả lại của cầm, đền bồi vật nó đã cướp lấy, bước theo lệ luật của sự sống, và không phạm sự gian ác nữa, thì chắc nó sẽ sống và không chết đâu.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

15nếu nó trả lại của cầm, hoàn trả vật nó đã cướp, bước theo lệ luật của sự sống và không phạm điều gian ác, thì chắc chắn nó sẽ sống và không chết đâu.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

15tức nếu kẻ gian ác trả lại của thế chân, trả lại những gì nó đã trộm cắp, sống theo luật pháp đem đến sự sống, và không phạm tội nữa– thì nó sẽ không chết, nhưng sẽ sống.

Bản Dịch Mới (NVB)

15nếu kẻ ác trả lại của cầm, bồi thường đồ đã ăn cướp, sống theo quy luật sự sống, không phạm tội thì chắc chắn nó sẽ sống và không chết.

Bản Phổ Thông (BPT)

15Chẳng hạn nó trả lại vật cầm thế hay trả lại vật nó đã ăn cắp. Nếu nó sống theo qui tắc và không phạm tội nữa thì nó chắc chắn sẽ sống, không chết.

New International Version (NIV)

16None of the sins that person has committed will be remembered against them. They have done what is just and right; they will surely live.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

16Chẳng có một tội nào nó đã phạm sẽ được nhớ lại nghịch cùng nó; nó đã làm theo luật pháp và hiệp với lẽ thật, chắc nó sẽ sống.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

16Chẳng có một tội nào nó đã phạm sẽ bị nhớ lại để chống lại nó; nó đã làm điều công bình, chính trực, chắc chắn nó sẽ sống.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

16Không một tội nào nó đã phạm trước kia sẽ được nhớ đến để kết tội nó nữa. Nó sẽ được sống, vì bây giờ nó làm theo công lý và lẽ công chính.’

Bản Dịch Mới (NVB)

16Mọi tội lỗi nó đã phạm sẽ không bị ghi nhớ; nó đã làm điều công bình và công chính nên chắc chắn nó sẽ sống.

Bản Phổ Thông (BPT)

16Nó sẽ không bị trừng phạt gì về những tội lỗi nó cả. Nay nó đã làm điều ngay thằng công bình cho nên chắc chắn nó sẽ sống.

New International Version (NIV)

17“Yet your people say, ‘The way of the Lord is not just.’ But it is their way that is not just.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

17Nhưng con cái của dân ngươi nói rằng: Đường của Chúa không bằng phẳng. Ấy là đường của chúng nó không bằng phẳng cho chúng nó!

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

17Nhưng dân tộc con nói rằng: ‘Đường lối của Chúa không ngay thẳng’ trong khi chính đường lối của chúng mới không ngay thẳng.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

17Thế nhưng dân ngươi nói, ‘Ðường lối của Chúa như vậy là không công bình.’ Ðúng ra, đường lối của các ngươi mới là không công bình.

Bản Dịch Mới (NVB)

17Con cái dân ngươi nói: ‘Đường lối của Chúa không ngay thẳng’; trong khi đường lối của chúng nó không ngay thẳng.

Bản Phổ Thông (BPT)

17Dân chúng ngươi nói: ‘Đường lối Chúa không công bình.’ Nhưng chính đường lối chúng nó mới không công bình.

New International Version (NIV)

18If a righteous person turns from their righteousness and does evil, they will die for it.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

18Nếu người công bình xây bỏ sự công bình của mình mà phạm sự gian ác, thì nó sẽ chết trong đó.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

18Nếu người công chính từ bỏ sự công chính của mình mà phạm điều gian ác thì nó sẽ chết trong đó.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

18Khi một người ngay lành lìa bỏ lẽ công chính mà phạm tội ác, thì nó phải chết trong tội ác của nó.

Bản Dịch Mới (NVB)

18Khi người công chính từ bỏ điều công chính và làm điều tội lỗi thì nó sẽ chết vì tội lỗi.

Bản Phổ Thông (BPT)

18Nếu người tốt thôi làm điều thiện mà làm điều ác thì sẽ chết vì điều ác mình.

New International Version (NIV)

19And if a wicked person turns away from their wickedness and does what is just and right, they will live by doing so.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

19Nếu kẻ dữ xây bỏ sự dữ của mình mà làm theo luật pháp và hiệp với lẽ thật, ấy là bởi cớ đó mà nó sẽ sống.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

19Nếu kẻ dữ từ bỏ điều dữ của mình và làm điều công bình, chính trực, thì nhờ đó nó sẽ sống.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

19Khi một kẻ tội lỗi lìa bỏ gian ác mà sống theo luật pháp và lẽ công chính, thì nhờ đó nó sẽ được sống.

Bản Dịch Mới (NVB)

19Khi kẻ ác từ bỏ điều gian ác mà làm điều công bình và công chính, thì nhờ những điều ấy nó sẽ sống.

Bản Phổ Thông (BPT)

19Nhưng nếu kẻ ác thôi làm chuyện ác mà làm điều phải lẽ và công bằng thì sẽ sống.

New International Version (NIV)

20Yet you Israelites say, ‘The way of the Lord is not just.’ But I will judge each of you according to your own ways.”

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

20Nhưng các ngươi nói rằng: Đường của Chúa không bằng phẳng! Hỡi nhà Y-sơ-ra-ên, ta sẽ xét đoán các ngươi, mỗi người theo việc làm của nó.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

20Nhưng các ngươi nói rằng: ‘Đường lối của Chúa không ngay thẳng!’ Hỡi nhà Y-sơ-ra-ên, Ta sẽ phán xét các ngươi, mỗi người theo việc mình làm.”

Bản Dịch 2011 (BD2011)

20Thế mà các ngươi lại bảo, ‘Ðường lối của Chúa như vậy là không công bình!’ Hỡi nhà I-sơ-ra-ên, Ta sẽ đoán xét mỗi người trong các ngươi tùy theo các đường lối của người ấy.”

Bản Dịch Mới (NVB)

20Các ngươi nói: ‘Đường lối của Chúa không ngay thẳng’. Hỡi nhà Y-sơ-ra-ên, Ta sẽ xét đoán các ngươi mỗi người tùy theo đường lối mình.”

Bản Phổ Thông (BPT)

20Các ngươi sẽ vẫn nói: ‘Đường lối Chúa không công bằng.’ Hỡi Ít-ra-en, ta sẽ xét xử các ngươi theo đường lối của các ngươi.”

New International Version (NIV)

21In the twelfth year of our exile, in the tenth month on the fifth day, a man who had escaped from Jerusalem came to me and said, “The city has fallen!”

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

21Năm thứ mười hai sau khi chúng ta bị bắt làm phu tù, ngày mồng năm tháng mười, một người đã trốn khỏi Giê-ru-sa-lem đến nói cùng ta rằng: Thành hãm rồi!

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

21Vào ngày mồng năm, tháng mười, năm thứ mười hai, sau khi chúng tôi bị bắt đi lưu đày, có một người đã trốn khỏi Giê-ru-sa-lem đến nói với tôi rằng: “Thành đã bị thất thủ rồi!”

Bản Dịch 2011 (BD2011)

21Ngày mồng năm, tháng Mười, năm thứ mười hai, kể từ khi chúng tôi bị lưu đày, có người trốn khỏi Giê-ru-sa-lem đến với tôi và nói, “Thành đã sụp đổ rồi.”

Bản Dịch Mới (NVB)

21Ngày năm tháng mười, năm thứ mười hai sau khi chúng tôi bị lưu đày, một người thoát nạn từ Giê-ru-sa-lem đến báo tin cho tôi hay: “Thành đã thất thủ rồi!”

Bản Phổ Thông (BPT)

21Sự việc xảy ra vào ngày năm tháng mười, năm lưu đày thứ mười hai của chúng tôi. Có một người vừa thoát khỏi Giê-ru-sa-lem đến gặp tôi báo cáo, “Thành Giê-ru-sa-lem bị chiếm rồi.”

New International Version (NIV)

22Now the evening before the man arrived, the hand of the Lord was on me, and he opened my mouth before the man came to me in the morning. So my mouth was opened and I was no longer silent.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

22Vả, buổi chiều trước khi người đi trốn ấy chưa đến, thì tay Đức Giê-hô-va ở trên ta; và Ngài đã mở miệng ta cho đến khi sớm mai người ấy đến cùng ta; thì miệng ta đã được mở, ta không câm nữa.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

22Bấy giờ, vào buổi chiều trước khi người trốn thoát ấy đến, tay Đức Giê-hô-va ở trên tôi và Ngài đã mở miệng tôi trước khi người trốn thoát ấy đến vào buổi sáng. Vậy miệng tôi được mở ra và tôi không còn bị câm nữa.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

22Số là đêm trước ngày người trốn thoát đến gặp tôi, tay CHÚA đã đặt nặng trên tôi, khiến tôi bị á khẩu. Sáng hôm sau, khi người ấy đến với tôi, Ngài mở miệng tôi ra, tôi nói được, và không bị á khẩu nữa.

Bản Dịch Mới (NVB)

22Tay của CHÚA ở trên tôi vào buổi chiều trước khi người thoát nạn đến, nhưng Ngài đã mở miệng cho tôi khi người thoát nạn đến cùng tôi vào buổi sáng; miệng tôi mở ra và không bị câm nữa.

Bản Phổ Thông (BPT)

22Tôi cảm biết quyền năng CHÚA trên tôi từ tối hôm trước. Ngài đã cho tôi nói trở lại trước khi người đó đến. Tôi nói được, không bị câm nữa.

New International Version (NIV)

23Then the word of the Lord came to me:

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

23Có lời Đức Giê-hô-va phán cùng ta rằng:

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

23Có lời Đức Giê-hô-va phán với tôi:

Bản Dịch 2011 (BD2011)

23Lời của CHÚA đến với tôi,

Bản Dịch Mới (NVB)

23Lời của CHÚA phán với tôi rằng:

Bản Phổ Thông (BPT)

23Rồi CHÚA phán cùng tôi:

New International Version (NIV)

24“Son of man, the people living in those ruins in the land of Israel are saying, ‘Abraham was only one man, yet he possessed the land. But we are many; surely the land has been given to us as our possession.’

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

24Hỡi con người, những kẻ ở trong nơi đổ nát chất đống trên đất Y-sơ-ra-ên nói rằng: Áp-ra-ham chỉ có một mình mà đã hưởng được đất nầy; chúng ta đông người, thì đất nầy: sẽ được ban cho chúng ta làm cơ nghiệp.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

24“Hỡi con người, những kẻ ở trong nơi đổ nát trên đất Y-sơ-ra-ên nói rằng: ‘Áp-ra-ham chỉ có một mình mà đã hưởng được đất nầy. Còn chúng ta đông người thì chắc chắn đất nầy sẽ được ban cho chúng ta làm cơ nghiệp.’

Bản Dịch 2011 (BD2011)

24“Hỡi con người, dân sống trong những nơi hoang phế trong đất I-sơ-ra-ên cứ bảo rằng, ‘Áp-ra-ham chỉ là một người thế mà ông ấy đã làm chủ được đất nầy, huống chi chúng ta có đông người, chắc chắn thế nào đất nầy cũng được ban cho chúng ta để chúng ta làm chủ.’

Bản Dịch Mới (NVB)

24“Hỡi con người, những kẻ cư trú chỗ hoang tàn này ở trên đất Y-sơ-ra-ên cứ nói rằng: ‘Tổ Áp-ra-ham chỉ có một mình mà người được sở hữu đất này, còn chúng ta đông người, chắc phải được đất làm sở hữu.’

Bản Phổ Thông (BPT)

24“Hỡi con người, dân chúng sống ở những nơi đổ nát trong xứ Ít-ra-en nói rằng: ‘Áp-ra-ham chỉ có một người thôi mà ông ta được cấp toàn xứ làm tài sản. Dĩ nhiên vì chúng ta đông cho nên xứ cũng được cấp cho chúng ta làm tài sản.’

New International Version (NIV)

25Therefore say to them, ‘This is what the Sovereign Lord says: Since you eat meat with the blood still in it and look to your idols and shed blood, should you then possess the land?

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

25Vậy nên, khá bảo chúng nó rằng: Chúa Giê-hô-va phán như vầy: Các ngươi ăn huyết của thú vật, nhướng mắt hướng về thần tượng mình, và làm cho đổ máu; các ngươi há sẽ được đất nầy sao?

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

25Vì thế, hãy bảo chúng rằng: ‘Chúa Giê-hô-va phán: Các ngươi ăn huyết của thú vật, mắt hướng về thần tượng mình và làm đổ máu, các ngươi sẽ được hưởng đất nầy sao?

Bản Dịch 2011 (BD2011)

25Vì vậy ngươi hãy nói với chúng, ‘CHÚA Hằng Hữu phán thế nầy, “Các ngươi ăn thịt với máu tươi còn trong đó. Các ngươi ngước mắt ngửa trông sự giúp đỡ từ các thần tượng của các ngươi, rồi làm đổ máu người ta, thế mà các ngươi lại muốn làm chủ đất nước nầy sao?

Bản Dịch Mới (NVB)

25Cho nên, hãy phán cùng chúng nó: ‘CHÚA Toàn Năng phán như vầy: Các ngươi ăn thịt còn máu, mắt chiêm ngưỡng các tượng thần và làm đổ máu, thế mà các ngươi sẽ sở hữu đất này sao?

Bản Phổ Thông (BPT)

25Vì thế hãy bảo chúng: ‘Chúa là Thượng Đế phán: Các ngươi ăn thịt còn dính máu, các ngươi xin thần tượng giúp mình, các ngươi giết người. Như vậy mà các ngươi muốn lấy xứ làm tài sản sao?

New International Version (NIV)

26You rely on your sword, you do detestable things, and each of you defiles his neighbor’s wife. Should you then possess the land?’

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

26Các ngươi cậy gươm mình, phạm những điều gớm ghiếc, mỗi người trong các ngươi làm nhục vợ của kẻ lân cận mình; các ngươi há sẽ được đất nầy sao?

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

26Các ngươi cậy gươm mình phạm những điều kinh tởm; mỗi người trong các ngươi làm nhục vợ của kẻ lân cận mình. Các ngươi sẽ được hưởng đất nầy sao?’

Bản Dịch 2011 (BD2011)

26Các ngươi cậy vào gươm đao của các ngươi, các ngươi làm những điều gớm ghiếc, ai nấy đều làm cho vợ của người khác ra ô uế, thế mà các ngươi còn muốn làm chủ đất nước nầy sao?’

Bản Dịch Mới (NVB)

26Các ngươi cậy gươm giáo mình, làm điều ghê tởm, mỗi người làm ô uế vợ người lân cận mình, thế mà các ngươi sẽ sở hữu đất này sao?’

Bản Phổ Thông (BPT)

26Các ngươi trông cậy vào gươm và làm những điều ta ghét. Ai nấy trong các ngươi cũng ăn nằm với vợ của người láng giềng mình. Vậy mà các ngươi đòi xứ sao?’

New International Version (NIV)

27“Say this to them: ‘This is what the Sovereign Lord says: As surely as I live, those who are left in the ruins will fall by the sword, those out in the country I will give to the wild animals to be devoured, and those in strongholds and caves will die of a plague.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

27Vậy ngươi khá nói cùng chúng nó rằng: Chúa Giê-hô-va phán như vầy: Thật như ta hằng sống, những người ở nơi đổ nát chắc sẽ ngã bởi gươm, và ta sẽ phó những kẻ ở ngoài đồng cho thú vật cắn nuốt; còn những kẻ ở trong các đồn lũy hang hố thì sẽ chết dịch.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

27Vậy con hãy nói với chúng rằng: Chúa Giê-hô-va phán: ‘Thật như Ta hằng sống, những người ở nơi đổ nát sẽ ngã chết bởi gươm, và Ta sẽ phó những kẻ ở ngoài đồng cho thú vật cắn nuốt; còn những kẻ ở trong các đồn lũy, hang hố thì sẽ chết vì dịch bệnh.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

27Ngươi hãy nói với chúng điều nầy, ‘Ta chỉ mạng sống của Ta mà thề rằng chắc chắn tất cả những kẻ đang sống trong các nơi hoang phế sẽ ngã chết dưới lưỡi gươm. Ta sẽ trao những kẻ sống ngoài đồng trống cho các thú dữ cắn xé; còn những kẻ sống trong các thành trì và các hang động sẽ bị chết vì ôn dịch.

Bản Dịch Mới (NVB)

27CHÚA Toàn Năng phán như vầy: ‘Hãy phán điều này cùng chúng nó, Như Ta hằng sống, những kẻ ở trong nơi hoang tàn sẽ ngã vì gươm, những kẻ ở nơi đồng trống sẽ bị làm mồi cho thú dữ, những kẻ ở trong thành lũy hay hầm hố sẽ chết vì dịch lệ.

Bản Phổ Thông (BPT)

27Hãy bảo chúng: CHÚA là Thượng Đế phán: ‘Thật như ta hằng sống, những kẻ sống trong các thành đổ nát trong Ít-ra-en sẽ chết vì chiến tranh. Còn những kẻ sống trong vùng quê thì ta sẽ cho thú dữ ăn thịt. Ai trốn trong mật khu và hang hốc sẽ chết vì bệnh tật.

New International Version (NIV)

28I will make the land a desolate waste, and her proud strength will come to an end, and the mountains of Israel will become desolate so that no one will cross them.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

28Ta sẽ làm đất nầy ra hoang vu và gở lạ; quyền thế nó cậy mà kiêu ngạo sẽ dứt đi; các núi của Y-sơ-ra-ên sẽ hoang vu đến nỗi chẳng có ai qua lại nữa.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

28Ta sẽ làm đất nầy trở nên hoang vu, điêu tàn, quyền thế mà nó tự hào sẽ bị diệt đi; các núi của Y-sơ-ra-ên sẽ trở nên hoang vu đến nỗi chẳng có ai qua lại nữa.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

28Ta sẽ biến đất nước ấy ra hoang tàn và đổ nát. Niềm kiêu hãnh về sức mạnh của nó sẽ không còn nữa. Các núi đồi của I-sơ-ra-ên sẽ ra hoang vu, đến nỗi không người qua lại.

Bản Dịch Mới (NVB)

28Ta sẽ làm đất này đổ nát, hoang tàn, sức mạnh kiêu hùng của nó sẽ chấm dứt. Núi non Y-sơ-ra-ên sẽ trở nên hoang tàn, không còn ai qua lại đó.

Bản Phổ Thông (BPT)

28Ta sẽ khiến đất trở thành sa mạc hoang vu. Sự kiêu hãnh của dân chúng vì quyền lực của đất đai sẽ không còn. Núi non của Ít-ra-en sẽ hoang vắng đến nỗi không ai qua lại cả.

New International Version (NIV)

29Then they will know that I am the Lord, when I have made the land a desolate waste because of all the detestable things they have done.’

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

29Bấy giờ chúng nó sẽ biết ta là Đức Giê-hô-va, khi ta đã làm cho đất nầy ra hoang vu và gở lạ, vì cớ mọi sự gớm ghiếc mà chúng nó đã phạm.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

29Bấy giờ, chúng sẽ biết Ta là Đức Giê-hô-va khi Ta làm cho đất nầy trở nên hoang vu, điêu tàn vì mọi điều kinh tởm mà chúng đã làm.’

Bản Dịch 2011 (BD2011)

29Bấy giờ chúng sẽ biết rằng Ta là CHÚA. Ta sẽ biến đất nước ấy ra hoang tàn và đổ nát, vì mọi điều gớm ghiếc chúng đã làm.’

Bản Dịch Mới (NVB)

29Bấy giờ chúng sẽ biết rằng chính Ta là CHÚA, Ta đã làm đất này hoang tàn, đổ nát vì những điều ghê tởm chúng đã phạm.’

Bản Phổ Thông (BPT)

29Rồi chúng sẽ biết rằng ta là CHÚA khi ta biến xứ ra sa mạc hoang vu vì chúng làm những điều mà ta ghét.’

New International Version (NIV)

30“As for you, son of man, your people are talking together about you by the walls and at the doors of the houses, saying to each other, ‘Come and hear the message that has come from the Lord.’

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

30Hỡi con người, những con cái của dân ngươi ở dọc tường thành và cửa các nhà mà nói chuyện về ngươi; chúng nó nói với nhau, mỗi người cùng anh em mình rằng: Xin hãy đến nghe lời ra từ Đức Giê-hô-va là thể nào!

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

30Hỡi con người, dân tộc con ở dọc tường thành và trước cửa nhà bàn tán về con; chúng nói với nhau, người nầy bảo người kia: ‘Xin hãy đến nghe sứ điệp từ Đức Giê-hô-va.’

Bản Dịch 2011 (BD2011)

30Còn phần ngươi, hỡi con người, dân ngươi nói với nhau về ngươi dọc nơi các tường thành, trước các cửa nhà. Chúng bảo nhau, người nầy nói với người kia, ‘Hãy đến nghe những lời đến từ CHÚA.’

Bản Dịch Mới (NVB)

30Còn ngươi, hỡi con người, con cái dân ngươi nói về ngươi dọc theo tường thành, tại cửa nhà. Người này nói với người kia, mỗi người nói với nhau: ‘Chúng ta hãy đến nghe xem CHÚA phán điều gì.’

Bản Phổ Thông (BPT)

30Nhưng còn về phần ngươi, hỡi con người, dân chúng ngươi bàn tán về ngươi bên vách và nơi mỗi cửa nhà. Chúng bảo nhau: ‘Chúng ta hãy đến nghe lời CHÚA.’

New International Version (NIV)

31My people come to you, as they usually do, and sit before you to hear your words, but they do not put them into practice. Their mouths speak of love, but their hearts are greedy for unjust gain.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

31Đoạn chúng nó kéo cả đoàn cả lũ mà đến cùng ngươi; dân ta ngồi trước mặt ngươi, và nghe lời ngươi; nhưng chúng nó không làm theo. Miệng chúng nó tỏ ra nhiều sự yêu mến, mà lòng chúng nó chỉ tìm lợi.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

31Chúng kéo cả đoàn mà đến với con; dân Ta ngồi trước mặt con và lắng nghe con nhưng chúng không làm theo. Miệng chúng nói những lời đầy yêu thương nhưng lòng chúng chỉ tìm lợi bất chính.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

31Chúng đến với ngươi thật đông. Dân Ta ngồi trước mặt ngươi để nghe những lời ngươi nói, nhưng chúng sẽ chẳng làm theo, vì chúng chỉ muốn nói để lấy lòng, còn thật lòng của chúng, chúng chỉ muốn làm sao để kiếm lợi cho mình.

Bản Dịch Mới (NVB)

31Chúng đến cùng ngươi như dân Ta vẫn thường đến, chúng ngồi trước mặt ngươi và nghe như dân Ta, nhưng chúng không thực hành vì chúng bày tỏ tình thương ngoài miệng nhưng lòng thì đi trục lợi.

Bản Phổ Thông (BPT)

31Vì thế chúng kéo nhau đông đảo đến với ngươi làm như thể muốn nghe lắm. Chúng ngồi trước mặt ngươi như thể chúng là dân ta và muốn nghe lời ngươi nhưng chúng đâu có chịu vâng theo. Miệng chúng nói yêu thương ta nhưng lòng thì chỉ nghĩ đến tư lợi.

New International Version (NIV)

32Indeed, to them you are nothing more than one who sings love songs with a beautiful voice and plays an instrument well, for they hear your words but do not put them into practice.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

32Nầy, chúng nó coi ngươi như là kẻ hát hay có tiếng vui và kẻ đàn giỏi; chúng nó nghe lời ngươi, nhưng không làm theo.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

32Nầy, chúng coi con như là kẻ hát hay, có giọng tốt và đàn giỏi; chúng nghe lời con nói nhưng không làm theo.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

32Này, đối với chúng, ngươi chẳng khác gì một ca sĩ hát lên những bản tình ca thắm thiết, bằng một giọng ca truyền cảm, đồng thời ngươi còn biết sử dụng nhạc khí thật hay. Chúng chỉ thích nghe những gì ngươi nói, nhưng chúng chẳng muốn làm theo.

Bản Dịch Mới (NVB)

32Đối với chúng, ngươi như là một bài ca trữ tình, người có giọng hát thanh tao, nhạc phụ họa êm ái. Nhưng chúng chỉ nghe lời ngươi nói mà không thực hành.

Bản Phổ Thông (BPT)

32Đối với dân chúng ngươi thì ngươi chỉ như ca sĩ hát bài tình ca, có giọng hay, chơi đờn giỏi. Chúng nghe lời ngươi nói nhưng không làm theo.

New International Version (NIV)

33“When all this comes true—and it surely will—then they will know that a prophet has been among them.”

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

33Vì vậy, khi tai nạn nầy sẽ đến, --- và kìa, nó đến. --- chúng nó sẽ biết đã có một tiên tri ở giữa mình.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

33Vì vậy, khi tai nạn nầy xảy đến, và kìa, nó đang đến, thì chúng biết rằng có một nhà tiên tri đang ở giữa chúng.”

Bản Dịch 2011 (BD2011)

33Khi điều ấy xảy ra, này, chắc chắn nó sẽ xảy ra, bấy giờ chúng sẽ biết rằng có một đấng tiên tri đang ở giữa chúng.”

Bản Dịch Mới (NVB)

33Này, khi điều này xảy đến và nó sẽ đến thì chúng sẽ biết rằng có một tiên tri ở giữa chúng.”

Bản Phổ Thông (BPT)

33Khi việc đó xảy ra, mà chắc chắn sẽ xảy ra, thì dân chúng sẽ biết rằng có một nhà tiên tri ở giữa họ.”