So Sánh Bản Dịch(Tối đa 6 bản dịch)


New International Version(NIV)

Bản Truyền Thống 1926(VI1934)

Bản Hiệu Đính Truyền Thống(RVV11)

Bản Dịch 2011(BD2011)

Bản Dịch Mới(NVB)

Bản Phổ Thông(BPT)

New International Version (NIV)

1In the eleventh year, in the third month on the first day, the word of the Lord came to me:

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

1Năm thứ mười một, ngày mồng một tháng ba, có lời Đức Giê-hô-va phán cùng ta như vầy:

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

1Vào ngày mùng một, tháng ba, năm thứ mười một, có lời Đức Giê-hô-va phán với tôi:

Bản Dịch 2011 (BD2011)

1Vào ngày mồng một, tháng Ba, năm thứ mười một, lời của CHÚA đến với tôi,

Bản Dịch Mới (NVB)

1Ngày một tháng ba năm thứ mười một, lời của CHÚA phán cùng tôi rằng:

Bản Phổ Thông (BPT)

1Vào ngày một tháng ba, năm lưu đày thứ mười một CHÚA phán cùng tôi rằng:

New International Version (NIV)

2“Son of man, say to Pharaoh king of Egypt and to his hordes: “ ‘Who can be compared with you in majesty?

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

2Hỡi con người, hãy nói cùng Pha-ra-ôn, vua Ê-díp-tô, và cùng cả đoàn dân người rằng: Sự tôn đại của ngươi so sánh cùng ai?

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

2“Hỡi con người, hãy nói với Pha-ra-ôn, vua Ai Cập, cùng cả đoàn dân của vua rằng:‘Sự lớn mạnh của ngươi so sánh với ai?

Bản Dịch 2011 (BD2011)

2“Hỡi con người, hãy nói với Pha-ra-ôn vua Ai-cập và với đạo quân đông đúc của nó,‘Ngươi so sánh sự vĩ đại của ngươi với ai?

Bản Dịch Mới (NVB)

2“Hỡi con người, hãy nói với Pha-ra-ôn, vua Ai Cập cùng đám dân của nó: ‘Ngươi sẽ so sánh với ai về sự vĩ đại của mình?

Bản Phổ Thông (BPT)

2“Hỡi con người, hãy nói cùng vua Ai-cập và dân chúng người rằng:‘Không ai cao trọng bằng ngươi.

New International Version (NIV)

3Consider Assyria, once a cedar in Lebanon, with beautiful branches overshadowing the forest; it towered on high, its top above the thick foliage.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

3Hãy xem A-si-ri: ngày trước nó giống như cây hương bách của Li-ban, nhánh đẹp đẽ, bóng diềm dà, cây cao, và ngọn nó lên đến mây.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

3Hãy xem A-si-ri: Ngày trước nó giống như cây bá hương của Li-ban,Cành lá đẹp đẽ, rợp bóng như rừng,Thân cao lớnVà ngọn cao vút tận mây.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

3Hãy xem A-sy-ri, Ðã một thời nó như một cây bá hương của Li-băng, Cành lá sum suê che mát một vùng, Thân cây cao lớn, ngọn cây cao ngất tầng mây.

Bản Dịch Mới (NVB)

3Kìa, A-si-ri như cây tùng ở Li-ban, Cành lá xinh tươi, bóng cây rậm rạp như rừng, Thân cao lớn, Ngọn cao vút giữa các cành lá sum sê.

Bản Phổ Thông (BPT)

3A-xy-ri trước kia như cây hương nam ở Li-băng,nhành lá xinh đẹp che rợp cánh rừng.Nó rất cao lớn; chóp nó lên đến tận mây.

New International Version (NIV)

4The waters nourished it, deep springs made it grow tall; their streams flowed all around its base and sent their channels to all the trees of the field.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

4Các dòng nước nuôi nó, có vực sâu chảy nước chung quanh chỗ nó trồng mà làm cho nó lớn lên, và tưới các suối mình cho mọi cây cối ở trong đồng.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

4Các dòng nước nuôi nó,Các mạch nước ngầm làm cho nó lớn lên,Khiến cho các dòng sôngChảy quanh chỗ nó trồng,Và cho các con kênhTưới mọi cây cối ngoài đồng.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

4Các dòng nước đã nuôi dưỡng nó, Nguồn nước ngầm đã làm nó cao lớn; Các dòng sông chảy quanh chỗ nó được trồng, Và các rạch nước nuôi mọi cây cối trong đồng.

Bản Dịch Mới (NVB)

4Nước nuôi cho nó lớn, Vực sâu làm cho nó cao; Các sông chảy Chung quanh nơi nó được trồng; Các sông nhánh chảy ra Khắp các cây trong đồng.

Bản Phổ Thông (BPT)

4Nước nhiều làm cho nó nẩy nở;và các mạch nước sâu làm cho nó cao lớn.Các sông chảy quanh gốc nóvà các phụ lưu chảy đến các cây kháctrong vùng thôn quê.

New International Version (NIV)

5So it towered higher than all the trees of the field; its boughs increased and its branches grew long, spreading because of abundant waters.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

5Vậy nên cây hương bách ấy cao hơn hết thảy các cây trong đồng; nhánh nó lớn lên, và tượt nó nứt thêm ra, là nhờ có nhiều nước làm cho nó nẩy nở.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

5Vì thế, cây bá hương ấyCao hơn tất cả các cây ngoài đồng,Cành lá um tùm,Nhánh nó vươn dài raNhờ có nhiều nước.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

5Vì vậy thân nó cao lớn hơn mọi cây cối trong đồng;Các chồi nó mọc ra nhiều, Các cành nó dài lớn, Nhờ có nước dồi dào khi nó lớn lên.

Bản Dịch Mới (NVB)

5Nhờ nước tưới dồi dào Cho nên thân cây cao lớn Hơn tất cả các cây trong đồng; Cành lá rậm rạp; Các nhánh vươn dài.

Bản Phổ Thông (BPT)

5Vì thế nó cao hơn các cây kháctrong vùng quê.Nhánh nó dài và tovì được tưới nước.

New International Version (NIV)

6All the birds of the sky nested in its boughs, all the animals of the wild gave birth under its branches; all the great nations lived in its shade.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

6Mọi giống chim trời làm ổ trong những nhánh nó; mọi giống thú đồng đẻ con dưới những tượt nó, và hết thảy các dân tộc lớn đều ở dưới bóng nó.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

6Mọi giống chim trờiLàm tổ trên cành nó;Mọi loài thú đồngĐẻ con dưới nhánh nó,Và tất cả các nước lớnĐều núp dưới bóng nó.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

6Ðủ loại chim trời làm tổ trong các cành nó;Dưới các nhánh nó mọi thú đồng lót ổ sinh con;Dưới bóng mát nó biết bao dân lớn cư trú.

Bản Dịch Mới (NVB)

6Mọi giống chim trời Làm tổ trên cành; Dưới bóng cây, Mọi thú đồng sinh con cái Và mọi dân lớn đều Cư trú dưới bóng nó.

Bản Phổ Thông (BPT)

6Chim trời làm tổ trong các nhánh nó.Muông thú sinh sản dưới các cành nó.Các dân tộc hùng mạnh cư ngụdưới bóng rợp của nó.

New International Version (NIV)

7It was majestic in beauty, with its spreading boughs, for its roots went down to abundant waters.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

7Nó là xinh tốt bởi thân nó cao, bởi tượt nó dài; vì rễ nó đâm trong chỗ nhiều nước.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

7Nó xinh tốt bởi thân to lớn,Nhánh vươn dài ra,Vì rễ nó đâm xuốngChỗ có nhiều nước.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

7Nó thật là một cây to lớn và đẹp đẽ, Các nhánh nó vươn dài tỏa rộng, Các rễ nó đâm sâu vào tận nguồn nước.

Bản Dịch Mới (NVB)

7Nó xinh đẹp vì to lớn, Cành lá dài Và rễ đâm vào Nơi có nhiều nước.

Bản Phổ Thông (BPT)

7Cây đó lớn lên và xinh đẹp,có các nhánh dài,vì rễ nó đâm xuống đến nước.

New International Version (NIV)

8The cedars in the garden of God could not rival it, nor could the junipers equal its boughs, nor could the plane trees compare with its branches— no tree in the garden of God could match its beauty.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

8Chẳng có cây hương bách nào trong vườn Đức Chúa Trời che khuất nó được; cây tùng không bằng cái nhánh nó, cây bàng không bằng cái tượt nó. Chẳng có cây nào của vườn Đức Chúa Trời xinh tốt bằng nó cả.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

8Chẳng có cây bá hương nào trong vườn Đức Chúa TrờiSánh được với nó.Cây tùng không bằng cành nó,Cây bàng cũng không bằng nhánh nó.Chẳng có cây nào của vườn Đức Chúa TrờiXinh tốt bằng nó cả.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

8Các cây bá hương trong vườn của Ðức Chúa Trời cũng không thể sánh với nó;Các cây thông không sao bằng các cành của nó;So với các nhánh của nó, các cây tiêu huyền đều chẳng ra gì;Không có cây nào trong vườn của Ðức Chúa Trời đẹp như nó.

Bản Dịch Mới (NVB)

8Những cây tùng trong vườn Đức Chúa Trời Không sánh được; Các cây thông cũng không Bằng các cành lá nó; Những cây tiêu huyền Không so được với các cành nó; Không một cây nào trong vườn Đức Chúa Trời Sánh bằng vẻ đẹp của nó.

Bản Phổ Thông (BPT)

8Nó cao hơn tất cả các cây hương namtrong vườn của Thượng Đế.Nó có nhiều nhánh hơn tất cảcác cây thông và cây tùng.Không có cây nào trong vườn của Thượng Đếđẹp bằng nó cả.

New International Version (NIV)

9I made it beautiful with abundant branches, the envy of all the trees of Eden in the garden of God.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

9Ta đã làm cho nó xinh tốt bởi muôn vàn nhánh nó, và hết thảy những cây của Ê-đen, là những cây trong vườn Đức Chúa Trời đều ganh gổ nó.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

9Ta đã làm cho nó xinh tốt,Với cành lá sum suê;Tất cả những cây của Ê-đenLà những cây trong vườn Đức Chúa TrờiĐều ganh tị với nó.’

Bản Dịch 2011 (BD2011)

9Ta đã làm cho nó trở nên đẹp đẽ, cành lá sum suê, Ðến nỗi mọi cây cối trong Ê-đen, vườn của Ðức Chúa Trời, đều phải ganh tị.’”

Bản Dịch Mới (NVB)

9Ta làm cho nó xinh đẹp Với cành lá sum sê đến nỗi Mọi cây trong vườn Ê-đen, Là vườn của Đức Chúa Trời đều ganh tị.

Bản Phổ Thông (BPT)

9Ta làm cho nó xinh đẹpbằng các nhánh của nó,tất cả các cây trong vườn Ê-đen của Thượng Đếđều muốn được như nó.’”

New International Version (NIV)

10“ ‘Therefore this is what the Sovereign Lord says: Because the great cedar towered over the thick foliage, and because it was proud of its height,

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

10Vậy nên, Chúa Giê-hô-va phán như vầy: Vì ngươi cao lớn, và nó đã vượt ngọn nó đến tận mây, và lòng nó đã kiêu ngạo vì mình cao lớn;

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

10Vậy nên, Chúa Giê-hô-va phán: ‘Vì nó cao lớn, ngọn cao vút tận mây và lòng nó kiêu ngạo vì vẻ cao lớn ấy,

Bản Dịch 2011 (BD2011)

10Vì thế, CHÚA Hằng Hữu phán thế nầy, “Vì nó tự cao tự đại ỷ vào thân cây cao lớn của nó, vào ngọn cây cao vút với cành lá sum suê của nó, và vì lòng nó sinh ra kiêu ngạo nhờ sự cao lớn của nó,

Bản Dịch Mới (NVB)

10Cho nên CHÚA Toàn Năng phán như vầy: Vì nó có thân to lớn, ngọn vươn lên cao vút giữa các cành lá sum sê nên lòng nó sinh tự cao vì sự cao lớn của mình.

Bản Phổ Thông (BPT)

10Nên CHÚA là Thượng Đế phán: Cây đó cao lớn. Chóp nó lên đến tận mây, nó đâm ra kiêu căng vì mình cao lớn.

New International Version (NIV)

11I gave it into the hands of the ruler of the nations, for him to deal with according to its wickedness. I cast it aside,

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

11nên ta sẽ phó nó trong tay một đấng mạnh của các nước, người chắc sẽ xử với nó; ta đã đuổi nó ra vì những tội ác nó.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

11cho nên Ta sẽ phó nó vào tay một người hùng mạnh của các nước để xử lý nó. Ta đã đuổi nó ra vì những tội ác nó.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

11nên Ta sẽ trao nó cho kẻ thống lãnh các dân. Hắn sẽ đối xử thích đáng với nó. Ta đã loại trừ nó vì sự gian ác của nó.

Bản Dịch Mới (NVB)

11Vì thế Ta sẽ trao nó vào tay kẻ quyền uy của các nước để đối xử xứng đáng với sự gian ác của nó. Ta đã bỏ nó.

Bản Phổ Thông (BPT)

11Cho nên ta giao nó cho một quan cai trị hùng mạnh của các dân để trừng phạt nó. Vì nó gian ác nên ta diệt nó.

New International Version (NIV)

12and the most ruthless of foreign nations cut it down and left it. Its boughs fell on the mountains and in all the valleys; its branches lay broken in all the ravines of the land. All the nations of the earth came out from under its shade and left it.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

12Một dân hung bạo trong hết thảy các dân ngoại đã chặt nó và bỏ lại. Những nhánh nó rớt xuống trên các núi và trong mọi nơi trũng; những tượt nó bị gãy nơi bờ khe, và mọi dân trên đất tránh xa bóng nó và lìa bỏ nó.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

12Một dân hung bạo nhất trong tất cả các dân ngoại sẽ chặt nó và bỏ lại. Những nhánh nó rơi xuống trên các núi và trong mọi thung lũng; những cành nó bị gãy nơi bờ khe trong xứ và mọi dân trên đất tránh xa bóng nó và lìa bỏ nó.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

12Quân ngoại xâm đến từ một xứ hung tàn nhất trong các dân đã đốn nó ngã xuống và bỏ nó nằm chơ vơ. Các nhánh nó nằm ngổn ngang trên các núi đồi và trong các thung lũng. Các cành nó gãy rời nằm bừa bãi trong các sông rạch trong xứ. Tất cả các dân trên đất đã bỏ bóng mát của nó ra đi.

Bản Dịch Mới (NVB)

12Những kẻ ngoại quốc từ những nước hung dữ nhất sẽ chặt ngã và bỏ mặc chúng nó. Nhánh nó sẽ rơi trên các núi đồi và thung lũng; cành lá nó tan tác khắp các khe trong xứ. Mọi dân trên đất lìa xa bóng nó và từ bỏ nó.

Bản Phổ Thông (BPT)

12Một dân ngoại quốc hung bạo nhất chặt nó xuống và bỏ nó. Các nhánh nó rơi trên núi và phủ đầy thung lũng, các nhánh gãy của nó nằm la liệt trong các hố sâu của xứ. Các quốc gia trên đất rời bỏ bóng mát của nó.

New International Version (NIV)

13All the birds settled on the fallen tree, and all the wild animals lived among its branches.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

13Mọi loài chim trời sẽ đậu trên sự đổ nát của nó, và mọi loài thú đồng sẽ đến nghỉ trên những tượt nó,

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

13Mọi loài chim trời sẽ đậu trên sự đổ nát của nó và mọi loài thú đồng sẽ đến nghỉ trên những cành nó,

Bản Dịch 2011 (BD2011)

13Trên đống nhánh cây đổ nát của nó, các chim trời làm tổ; dưới các cành của nó, các thú đồng làm chỗ nương thân.

Bản Dịch Mới (NVB)

13Mọi chim trời sẽ đậu trên thân cây ngã của nó; mọi thú đồng sẽ ở nơi cành lá nó.

Bản Phổ Thông (BPT)

13Chim trời sinh sống trên thân cây đã bị đốn ngã của nó. Thú rừng sống ở giữa các nhánh gãy của nó.

New International Version (NIV)

14Therefore no other trees by the waters are ever to tower proudly on high, lifting their tops above the thick foliage. No other trees so well-watered are ever to reach such a height; they are all destined for death, for the earth below, among mortals who go down to the realm of the dead.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

14hầu cho chẳng có cây nào trồng gần nước dám kiêu ngạo về sự cao mình, hay là vượt ngọn lên đến tận mây, và cho không có những cây nào được các dòng nước tưới rộng cho mà khoe mình cao lớn; vì chúng nó hết thảy bị phó cho sự chết, cho vực sâu của đất, ở giữa con cái loài người, với những kẻ xuống trong hầm hố!

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

14để chẳng có cây nào trồng gần nước dám kiêu ngạo về sự cao lớn mình hoặc về ngọn cây cao vút tận mây. Không có cây nào được các dòng nước tưới mà cao lớn như thế; tất cả chúng bị phó cho sự chết, cho vực sâu của đất ở giữa con cái loài người và cho những kẻ sa xuống hố thẳm!’

Bản Dịch 2011 (BD2011)

14Tất cả những điều đó xảy ra để mọi cây mọc bên dòng nước sẽ không cậy vào thân cây cao lớn của mình, không cậy vào ngọn cây cao vút của mình, và không cậy vào cành lá sum suê của mình mà tự cao tự đại, và để không cây nào nhờ hấp thụ nước mà được cao lớn sẽ kiêu ngạo nữa.Vì tất cả chúng sẽ bị trao cho tử thần để đem vào miền sâu của lòng đất,Cùng với những kẻ đi xuống vực sâu, là những phàm nhân từng sống giữa nhân gian.”

Bản Dịch Mới (NVB)

14Cho nên không cây nào bên dòng nước sẽ mọc lên cao lớn, ngọn vươn cao vút giữa các cành lá sum sê. Mọi thứ cây đượm nước sẽ không mọc lên cao lớn như thế vì tất cả đều đã bị phó cho sự chết, cho âm giới cùng với những kẻ phàm nhân sa vào vực thẳm.

Bản Phổ Thông (BPT)

14“Cho nên các cây sống gần nước không còn kiêu căng vì cao lớn; chóp nó không lên đến mây. Không có cây nào được tưới nước mà cao đến như vậy vì tất cả mọi cây đều phải chết và tan nát trong đất. Chúng sẽ xuống lòng đất và ở chung với những người đã chết.”

New International Version (NIV)

15“ ‘This is what the Sovereign Lord says: On the day it was brought down to the realm of the dead I covered the deep springs with mourning for it; I held back its streams, and its abundant waters were restrained. Because of it I clothed Lebanon with gloom, and all the trees of the field withered away.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

15Chúa Giê-hô-va phán như vầy: Ngày mà nó xuống nơi Âm phủ, ta đã khiến kẻ thương khóc vì cớ nó, ta lấp vực sâu; ngăn cấm các sông chảy mạnh, và những dòng nước lớn bị tắt lại. Ta khiến Li-ban buồn rầu vì cớ nó, và mọi cây ngoài đồng vì nó bị suy tàn.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

15Chúa Giê-hô-va phán: ‘Ngày mà nó xuống âm phủ, Ta sẽ khiến người ta than khóc vì nó; Ta lấp vực sâu, ngăn các sông, chận những dòng nước lớn. Ta khiến Li-ban than khóc vì nó và mọi cây ngoài đồng bị héo tàn vì nó.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

15CHÚA Hằng Hữu phán thế nầy, “Trong ngày nó đi xuống âm phủ, Ta đã khiến có một cuộc thảm sầu. Ta đã lấp vực sâu để chôn vùi nó bên dưới. Ta đã làm cho các dòng sông ngưng chảy, các dòng nước lớn ngừng lại. Ta đã làm cho Li-băng vì nó mà thảm sầu ảo não, và tất cả các cây cối ngoài đồng vì nó mà úa lá rũ cành.

Bản Dịch Mới (NVB)

15CHÚA Toàn Năng phán như vầy: Trong ngày nó sa xuống Âm Phủ, Ta sẽ làm cho người Ta than khóc, đóng các vực sâu, chận các con sông, ngăn các dòng nước lớn. Ta sẽ làm cho Li-ban ảm đạm; mọi cây cối ngoài đồng sẽ tàn héo vì nó.

Bản Phổ Thông (BPT)

15CHÚA là Thượng Đế phán: Vào ngày cây đó đi xuống âm phủ, ta sẽ khiến các suối nước sâu kêu khóc thảm thiết. Ta sẽ che chúng và ngăn các dòng nước chúng, các suối nước sẽ ngưng chảy. Ta sẽ cho Li-băng mặc đồ đen để than khóc về cây lớn đó, các cây khác trong vùng quê cũng buồn bã vì nó.

New International Version (NIV)

16I made the nations tremble at the sound of its fall when I brought it down to the realm of the dead to be with those who go down to the pit. Then all the trees of Eden, the choicest and best of Lebanon, the well-watered trees, were consoled in the earth below.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

16Ta làm cho các dân tộc nghe tiếng nó đổ xuống mà rúng động, khi ta quăng nó xuống đến Âm phủ, với hết thảy những kẻ xuống trong hầm hố! Bấy giờ mọi cây của Ê-đen, những cây rất xinh, những cây rất tốt của Li-ban, hết thảy những cây ngày trước được nhiều nước tưới, đều được yên ủi trong nơi vực sâu của đất.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

16Ta làm cho các dân tộc nghe tiếng nó đổ xuống mà rúng động, khi Ta ném nó xuống tận âm phủ cùng với tất cả những kẻ sa xuống hố thẳm ấy! Bấy giờ, mọi cây của Ê-đen, những cây xinh tốt, được tuyển chọn của Li-ban, tất cả những cây được tưới nước dồi dào, đều được an ủi trong vực sâu của đất.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

16Ta đã làm cho các dân nghe tin nó sụp đổ rúng động, khi Ta quăng nó xuống âm phủ với những kẻ đi xuống vực sâu. Bấy giờ tất cả cây cối ở Ê-đen, những cây cối tốt nhất và đẹp nhất của Li-băng, tất cả những cây đã được hấp thụ nước đầy đủ sẽ được an ủi, vì nó cũng ở cùng một chỗ với chúng dưới miền sâu của lòng đất.

Bản Dịch Mới (NVB)

16Ta làm cho các nước run rẩy khi nghe tiếng nó sụp đổ, khi Ta phó nó xuống Âm phủ cùng với những kẻ sa xuống vực thẳm. Bấy giờ tất cả những cây trong vườn Ê-đen, những cây chọn lọc và tốt tươi, những cây được tưới đượm nước đều được an ủi nơi âm giới.

Bản Phổ Thông (BPT)

16Ta khiến các dân run sợ khi nghe tiếng cây đó ngã rầm lúc ta mang nó xuống âm phủ. Nó xuống đó để nhập chung với những kẻ đã xuống huyệt. Rồi tất cả các cây trong vườn Ê-đen và những cây tốt nhất của Li-băng, những cây được tưới nước đầy đủ, sẽ được an ủi nơi âm phủ dưới đất.

New International Version (NIV)

17They too, like the great cedar, had gone down to the realm of the dead, to those killed by the sword, along with the armed men who lived in its shade among the nations.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

17Chúng nó cũng đã xuống với nó trong nơi Âm phủ, kề những kẻ đã bị gươm giết, những kẻ ngày trước vốn là cánh tay của nó và ở dưới bóng nó giữa các dân.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

17Chúng cũng sa xuống âm phủ với nó, ở gần những kẻ bị gươm giết, tức là những kẻ vốn là đồng minh của nó và ở dưới bóng nó giữa các nước.’

Bản Dịch 2011 (BD2011)

17Chúng thảy đều đi xuống âm phủ với nó, đến chỗ ở của những kẻ đã bị giết bằng gươm, cùng chung số phận với các đồng minh của nó, những kẻ đã sống dưới bóng mát của nó giữa các dân.

Bản Dịch Mới (NVB)

17Chúng nó cũng sa xuống Âm phủ cùng với nó, đến với những kẻ bị chết bằng gươm, những đồng minh giữa các nước đã cư ngụ dưới bóng nó.

Bản Phổ Thông (BPT)

17Các cây nầy cũng đã đi xuống chung với chỗ cây lớn nơi âm phủ. Chúng nhập chung với những kẻ đã bị giết trong chiến tranh và với những dân đã sống dưới bóng cây lớn ấy.

New International Version (NIV)

18“ ‘Which of the trees of Eden can be compared with you in splendor and majesty? Yet you, too, will be brought down with the trees of Eden to the earth below; you will lie among the uncircumcised, with those killed by the sword. “ ‘This is Pharaoh and all his hordes, declares the Sovereign Lord.’ ”

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

18Trong những cây của vườn Ê-đen, thì ngươi là giống ai về sự vinh hiển tôn trọng? Ngươi cũng sẽ bị xô xuống cùng với các cây của Ê-đen trong nơi vực sâu của đất; ngươi sẽ nằm chính giữa những kẻ không chịu cắt bì, với những kẻ đã bị gươm giết. Pha-ra-ôn và hết thảy dân chúng người sẽ như vậy, Chúa Giê-hô-va phán.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

18Cây nào trong những cây của vườn Ê-đen giống với ngươi về sự vinh hiển tôn trọng? Ngươi cũng sẽ bị xô xuống cùng với các cây của Ê-đen trong vực sâu của đất như vậy; ngươi sẽ nằm giữa những kẻ không chịu cắt bì, với những kẻ đã bị gươm giết. Pha-ra-ôn và tất cả thần dân của nó sẽ đồng chung số phận. Chúa Giê-hô-va phán vậy.”

Bản Dịch 2011 (BD2011)

18Có cây nào trong các cây ở Ê-đen được vinh hiển và vĩ đại như ngươi chăng? Thế nhưng ngươi sẽ bị đốn xuống, chung với những cây ở Ê-đen, để đi vào miền sâu của lòng đất. Ngươi sẽ nằm chung với những kẻ không được cắt bì, với những kẻ bị giết bằng gươm. Ðây là số phận của Pha-ra-ôn và toàn thể đạo quân đông đảo của nó,” CHÚA Hằng Hữu phán.

Bản Dịch Mới (NVB)

18Về sự vinh hiển và vĩ đại, ngươi sẽ so sánh với cây nào trong vườn Ê-đen? Ngươi sẽ bị đem xuống âm giới cùng với các cây trong vườn Ê-đen; bị nằm giữa những kẻ không cắt bì và những kẻ bị giết bằng gươm. Ấy là Pha-ra-ôn cùng mọi đám dân đông đảo của người. CHÚA Toàn Năng tuyên bố.’ ”

Bản Phổ Thông (BPT)

18Cho nên, hỡi Ai-cập, không có cây nào trong vườn Ê-đen bằng ngươi về uy nghiêm và danh vọng, nhưng ngươi sẽ nhập chung với các cây khác trong vườn Ê-đen dưới âm phủ. Ngươi sẽ nằm chung với những người ngoại quốc, cùng với những người bị giết trong chiến tranh.Đó là nói về vua Ai-cập và toàn dân người, CHÚA phán vậy.