So Sánh Bản Dịch(Tối đa 6 bản dịch)


Bản Truyền Thống 1926(VI1934)

Bản Dịch 2011(BD2011)

Bản Dịch Mới(NVB)

Bản Phổ Thông(BPT)

Bản Diễn Ý(BDY)

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

1Sau các việc ấy, vua A-suê-ru thăng chức cho Ha-man, con trai của Ham-mê-đa-tha, người A-gát, và làm nổi danh người, đặt ngôi người trên các quan trưởng ở cung vua.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

1Sau các việc đó, Vua A-ha-suê-ru thăng chức cho Ha-man con của Ham-mê-đa-tha, người A-ga-ghi. Vua lập ông làm tể tướng, giữ địa vị cao trọng hơn mọi triều thần của vua.

Bản Dịch Mới (NVB)

1Cách ít lâu, vua A-suê-ru thăng chức cho Ha-man, con Ha-mê-đa-tha, thuộc dòng dõi A-sát; vua cất nhắc ông lên giữ chức vụ cao hơn tất cả các quan chức trong triều.

Bản Phổ Thông (BPT)

1Sau các việc đó, vua A-suê-ru thăng chức cho Ha-man, con trai Ha-ma-đa-tha, người A-gác. Vua đặt Ha-man làm tể tướng, trên quyền tất cả các quan trong triều đình.

Bản Diễn Ý (BDY)

1Sau đó, vua A-suê-ru cất nhắc Ha-man, con Ha-mê-đa-tha, người A-gát lên làm tể tướng, nắm quyền trên tất cả các thượng quan trong triều.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

2Hết thảy thần bộc ở tại nơi cửa vua đều cúi xuống lạy Ha-man; vì về phần người, vua đã truyền bảo như vậy. Nhưng Mạc-đô-chê không cúi xuống, cũng không lạy người.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

2Tất cả quần thần của vua ở cổng hoàng cung đều cúi đầu và lạy ông, vì vua đã truyền mọi người phải làm như thế đối với ông. Tuy nhiên Mộc-đê-cai không cúi đầu hoặc lạy ông.

Bản Dịch Mới (NVB)

2Hết thảy các triều thần của vua tại triều đình đều quỳ xuống và cúi sấp trước mặt Ha-man, vì vua đã ra lệnh như vậy. Tuy nhiên Mạc-đô-chê không quỳ xuống, cũng không cúi sấp.

Bản Phổ Thông (BPT)

2Theo lệnh vua, các quan trong triều phải cúi lạy chào Ha-man, nhưng Mạc-đô-chê không cúi lạy cũng chẳng tỏ vẻ tôn kính Ha-man.

Bản Diễn Ý (BDY)

2Theo lệnh vua các quan chức trong hoàng cung đều phải kính cẩn chào Ha-man. Nhưng Mạc-đốc không chịu khom mình tôn kính Ha-man.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

3Các thần bộc ở nơi cửa vua bèn nói với Mạc-đô-chê rằng: Cớ sao ông phạm mạng vua?

Bản Dịch 2011 (BD2011)

3Bấy giờ các triều thần của vua ở cổng hoàng cung nói với Mộc-đê-cai, “Tại sao ông không vâng lệnh vua?”

Bản Dịch Mới (NVB)

3Vì thế các triều thần của vua tại triều đình hỏi Mạc-đô-chê: “Sao ông bất tuân lệnh vua?”

Bản Phổ Thông (BPT)

3Các quan trong triều tại cửa vua thắc mắc hỏi Mạc-đô-chê, “Tại sao ông không tuân lệnh vua?”

Bản Diễn Ý (BDY)

3Quần thần nói với Mạc-đốc: "Sao ông dám coi thường lệnh vua?"

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

4Xảy vì chúng nói với người ngày nầy qua ngày kia, mà người chẳng khứng nghe đến, thì chúng cáo cho Ha-man hay, đặng thử xem sự tình của Mạc-đô-chê có thắng chăng, vì người đã tỏ cho chúng rằng mình là người Giu-đa.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

4Ngày nào họ cũng hỏi ông như thế, nhưng ông chẳng nghe lời họ. Bấy giờ họ tâu với Ha-man để xem ai thắng hơn ai, vì ông đã bảo với họ rằng ông là người Do-thái.

Bản Dịch Mới (NVB)

4Sau khi họ nhắc ông ngày này qua ngày kia, nhưng ông vẫn không nghe theo họ, họ trình lên Ha-man để xem lý của Mạc-đô-chê có vững hay không, vì ông có tiết lộ cho họ biết ông là người Do-thái.

Bản Phổ Thông (BPT)

4Chúng gạn hỏi ông mỗi ngày nhưng ông chẳng buồn để ý. Họ liền báo cho Ha-man hay. Họ muốn biết xem Ha-man có chấp nhận thái độ của Mạc-đô-chê hay không vì Mạc-đô-chê cho họ biết mình là người Do-thái.

Bản Diễn Ý (BDY)

4Họ nhắc đi nhắc lại mỗi ngày, nhưng ông không nghe. Cuối cùng họ trình Ha-man để xem thái độ Mạc-đốc như thế có được chấp nhận không, vì ông cho họ biết ông là người Do thái.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

5Khi Ha-man thấy Mạc-đô-chê không cúi xuống và không lạy mình bèn nổi giận dữ.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

5Khi Ha-man thấy Mộc-đê-cai không cúi đầu hoặc lạy mình, Ha-man vô cùng tức giận.

Bản Dịch Mới (NVB)

5Khi thấy Mạc-đô-chê không chịu quỳ xuống, cũng không cúi sấp trước mặt mình, Ha-man tức giận vô cùng.

Bản Phổ Thông (BPT)

5Khi Ha-man thấy Mạc-đô-chê không cúi chào cũng chẳng tỏ vẻ tôn kính mình thì vô cùng giận dữ.

Bản Diễn Ý (BDY)

5Khi Ha-man thấy Mạc-đốc không khom lưng chào kính mình thì giận dữ vô cùng.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

6Người ta đã học cho Ha-man biết Mạc-đô-chê là người Giu-đa, nên người cho sự tra tay trên một mình Mạc-đô-chê là một sự nhỏ mọn, người bèn tìm mưu giết hết thảy dân Giu-đa, là tông tộc của Mạc-đô-chê, ở trong toàn nước A-suê-ru.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

6Nhưng ông nghĩ rằng nếu chỉ ra tay giết một mình Mộc-đê-cai thì quá tầm thường. Vì thế sau khi biết rõ Mộc-đê-cai là người Do-thái, Ha-man quyết định tiêu diệt toàn dân Do-thái đang sống trong đế quốc của Vua A-ha-suê-ru.

Bản Dịch Mới (NVB)

6Nhưng Ha-man khinh thường việc giết hại một mình Mạc-đô-chê, nên ông lập mưu tiêu diệt tất cả những người Do-thái, là dân tộc của Mạc-đô-chê, trên toàn đế quốc vua A-suê-ru.

Bản Phổ Thông (BPT)

6Ha-man không muốn giết chỉ một mình Mạc-đô-chê thôi nhưng mà còn tìm cách tiêu diệt cả dân Do-thái trên toàn đế quốc của vua A-suê-ru mới hả giận.

Bản Diễn Ý (BDY)

6Ông nghĩ rằng giết một mình Mạc-đốc chưa đủ, nên phải tiêu diệt cả dân tộc Mạc-đốc - tức là dân Do thái - trong toàn thể đế quốc vua A-suê-ru.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

7Tháng giêng là tháng Ni-san, năm thứ mười hai đời vua A-suê-ru, người ta bỏ Phu-rơ, nghĩa là bỏ thăm, mỗi ngày mỗi tháng, tại trước mặt Ha-man, cho đến tháng mười hai, là tháng A-đa.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

7Vào tháng Giêng tức tháng Ni-san của năm thứ mười hai triều đại Vua A-ha-suê-ru, người ta gieo Pu-rơ, tức gieo thăm, trước mặt Ha-man, để định ngày và tháng. Thăm rơi nhằm ngày mười ba tháng Mười Hai, tức tháng A-đa.

Bản Dịch Mới (NVB)

7Vào tháng giêng, tức tháng Ni-san, năm thứ mười hai đời vua A-suê-ru, theo lệnh Ha-man, người ta gieo Phu-rơ, nghĩa là gieo thăm, để định ngày và tháng, nhằm hủy diệt dân tộc của Mạc-đô-chê trong một ngày, và thăm trúng ngày mười ba tháng chạp, tức tháng A-đa.

Bản Phổ Thông (BPT)

7Vào tháng giêng gọi là tháng Ni-san, năm thứ mười hai, triều đại vua A-suê-ru, người ta bắt thăm để chọn ngày và tháng trước mặt Ha-man. Thăm rơi trúng tháng mười hai, tức tháng A-đa.

Bản Diễn Ý (BDY)

7Theo lệnh Ha-man, vào tháng giêng năm thứ 12 đời vua A-suê-ru, hằng ngày người ta bắt đầu gieo con súc sắc để chọn ngày hình phạt - và tiếp tục cho đến tháng chạp năm ấy.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

8Ha-man tâu với vua A-suê-ru rằng: Có một dân tộc tản mác, rải rác ra giữa các dân tộc trong những tỉnh của nước vua: luật pháp của chúng nó khác hơn luật pháp của các dân khác; lại chúng nó cũng không tuân theo luật pháp của vua; dung chúng nó chẳng tiện cho vua.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

8Sau đó Ha-man vào tâu với Vua A-ha-suê-ru, “Có một dân nọ sống rải rác và cách biệt với các dân tộc khác ở khắp các tỉnh trong vương quốc của hoàng thượng. Luật lệ của chúng khác hẳn với luật lệ của các dân tộc khác. Chúng không vâng giữ luật pháp của hoàng thượng. Cứ để chúng như thế thật là bất lợi cho hoàng thượng.

Bản Dịch Mới (NVB)

8Ha-man tâu cùng vua A-suê-ru: “Có một dân tộc sống rải rác, và tách biệt giữa các dân tộc khác trong khắp các tỉnh trong đế quốc của bệ hạ. Dân tộc này chẳng những có luật lệ khác hẳn mọi dân tộc kia, mà chúng lại không tuân hành luật lệ của bệ hạ nữa. Dung tha cho chúng thật không ích lợi gì cho bệ hạ cả.

Bản Phổ Thông (BPT)

8Ha-man tâu cùng vua A-suê-ru rằng, “Có một dân tộc ở rải rác khắp các tỉnh trong vương quốc. Phong tục họ khác hẳn với các dân tộc khác. Họ không tuân theo luật pháp của vua, chúng ta chẳng nên để họ tiếp tục sống trên lãnh thổ của vua làm gì.

Bản Diễn Ý (BDY)

8Ha-man tâu cùng vua A-suê-ru: "Có một dân vong quốc sống tản mác trong các tỉnh của đế quốc vua. Luật pháp chúng nó chẳng giống luật của dân tộc nào, chúng chẳng tuân hành luật pháp vua, tha cho chúng sống chẳng lợi cho vua chút nào.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

9Nếu điều đó vừa ý vua, khá giáng chiếu chỉ truyền tuyệt diệt chúng nó đi; rồi tôi sẽ cân mười ngàn ta-lâng bạc phó vào tay những quan đốc tư để đem vào kho vua.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

9Nếu đẹp lòng hoàng thượng, xin hoàng thượng ban một sắc chỉ để tiêu diệt chúng. Hạ thần sẽ cho cân ba trăm bốn chục ngàn ký bạc trao vào tay các quan quản lý ngân khố của hoàng thượng, để họ đưa vào kho của hoàng thượng.”

Bản Dịch Mới (NVB)

9Nếu bệ hạ đẹp lòng, xin bệ hạ ra sắc lệnh tiêu diệt dân tộc đó. Tôi xin đóng ba trăm bốn mươi lăm tấn bạc cho các viên chức phụ trách sung vào ngân khố triều đình.”

Bản Phổ Thông (BPT)

9Nếu đẹp ý vua, xin ban hành sắc lệnh hủy diệt dân tộc đó. Hạ thần xin đóng bảy trăm năm mươi ngàn cân bạc vào quỹ nhà vua để lo chi phí cho việc thi hành sắc lệnh nầy.”

Bản Diễn Ý (BDY)

9Nếu vua đẹp lòng, xin ra sắc lệnh tiêu diệt dân đó. Tôi xin đóng 20 triệu đồng vào ngân khố hoàng gia để trang trải phí tổn về việc thanh lọc này."

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

10Vua bèn cởi chiếc nhẫn khỏi tay mình, trao cho Ha-man, con trai Ham-mê-đa-tha, người A-gát, kẻ cừu địch dân Giu-đa.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

10Vua lấy chiếc nhẫn có ấn dấu đeo nơi tay mình mà trao cho Ha-man con của Ham-mê-đa-tha, người A-ga-ghi, kẻ thù của người Do-thái.

Bản Dịch Mới (NVB)

10Bấy giờ vua tháo nhẫn có ấn của vua ra khỏi tay trao cho Ha-man, con Ha-mê-đa-tha, thuộc dòng dõi A-gát, kẻ thù của dân Do-thái.

Bản Phổ Thông (BPT)

10Vua liền tháo nhẫn trao cho Ha-man, con Ha-ma-đê-tha, người A-gác, kẻ thù của dân Do-thái.

Bản Diễn Ý (BDY)

10Vua đồng ý, tháo nhẫn khỏi tay trao cho Ha-man, con Ha-mê-đa-tha, người A-gát, kẻ thù của dân Do-thái.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

11Vua nói với Ha-man rằng: Bạc đã ban cho ngươi, dân sự cũng phó cho ngươi, để làm điều chi mặc ý ngươi.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

11Vua nói với Ha-man, “Ngươi hãy giữ lại số bạc đó, ta trao dân đó vào tay ngươi, ngươi muốn làm gì chúng thì làm.”

Bản Dịch Mới (NVB)

11Vua phán với Ha-man: “Ta giao bạc tiền cho khanh, luôn cả dân tộc đó, khanh muốn làm gì tùy ý.”

Bản Phổ Thông (BPT)

11Vua bảo Ha-man, “Tiền và dân tộc đó trong tay ngươi, muốn làm gì tùy ý.”

Bản Diễn Ý (BDY)

11Vua nói với Ha-man: "Ta giao tiền cho ngươi, dân tộc ấy ở trong tay ngươi, ngươi muốn làm gì tùy ý.”

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

12Tháng giêng, ngày mười ba, thì đòi những thầy thơ ký của vua đến; rồi tùy theo mọi điều Ha-man truyền dặn, người ta nhân danh A-suê-ru viết chiếu cho các quan trấn thủ của vua, cho các quan cai quản mỗi tỉnh, và cho trưởng tộc của mỗi dân tộc, tỉnh nào dùng chữ nấy, dân tộc nào theo thổ âm nấy; đoạn họ lấy chiếc nhẫn của vua mà đóng ấn.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

12Thế là ngày mười ba tháng Giêng, các ký lục của vua được triệu đến để ghi sắc chỉ. Toàn thể nội dung của sắc chỉ đều cứ theo lệnh của Ha-man mà chép ra. Sắc chỉ ấy được gởi cho các thống đốc, các tỉnh trưởng cai trị các tỉnh, và các tổng trấn của các dân, tỉnh nào theo chữ viết của tỉnh ấy, dân nào theo ngôn ngữ của dân ấy. Sắc chỉ ấy được nhân danh Vua A-ha-suê-ru viết ra và được đóng bằng ấn dấu của vua.

Bản Dịch Mới (NVB)

12Ngày mười ba tháng giêng, các thư ký của vua được triệu tập lại để thảo công văn y theo mọi chỉ thị của Ha-man, gửi cho các vị thống đốc của vua, các tổng trấn của mỗi tỉnh, các quan chức của từng dân tộc. Công văn viết bằng chữ viết của mỗi tỉnh và ngôn ngữ của mỗi dân tộc, ký tên vua A-suê-ru, và đóng ấn bằng nhẫn vua.

Bản Phổ Thông (BPT)

12Vào ngày mười ba tháng giêng, theo lệnh Ha-man, các thư ký trong triều đình viết sắc lệnh gởi đến các thống đốc và cấp chỉ huy quân đội của các tiểu quốc và của mỗi sắc dân tùy theo chữ viết và ngôn ngữ địa phương. Sắc lệnh ký tên vua A-suê-ru và đóng ấn bằng nhẫn vua.

Bản Diễn Ý (BDY)

12Ngày 13 tháng giêng, theo lệnh Ha-man, các thư ký của vua thảo văn thư gửi đến các thống đốc, tổng trấn và quan chức trong cả đế quốc, theo ngôn ngữ từng dân tộc ở mỗi địa phương. Thư này ký tên vua A-suê-ru và đóng ấn bằng nhẫn vua.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

13Rồi họ gởi các thơ bởi lính trạm cho các tỉnh của vua, đặng dạy biểu rằng nhằm ngày mười ba tháng mười hai, tức là tháng A-đa, phải trừ diệt, giết chết và làm cho hư mất hết thảy dân Giu-đa trong một ngày đó, vô luận người già kẻ trẻ, con nhỏ hay là đàn bà, và cướp giựt tài sản của chúng nó.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

13Các sắc chỉ ấy được những người đưa thư mang đến các tỉnh của vua, truyền lệnh phải tiêu diệt, giết chết, và tận diệt mọi người Do-thái, cả trẻ lẫn già, phụ nữ và trẻ thơ, trong một ngày, đó là ngày mười ba tháng Mười Hai, tức tháng A-đa, và cướp lấy tất cả tài sản của họ.

Bản Dịch Mới (NVB)

13Các lính trạm đem văn thư đến khắp các tỉnh của vua, với chỉ thị: phải hủy diệt, tàn sát, tiêu trừ tất cả những người Do-thái, từ trẻ đến già, luôn cả trẻ con và phụ nữ, vào một ngày duy nhất, ngày mười ba tháng chạp, tức tháng A-đa, và cướp đoạt tài sản của họ;

Bản Phổ Thông (BPT)

13Sắc lệnh được gởi qua các sứ giả phái đến khắp nơi trong nước, truyền cho dân chúng vào ngày mười ba tháng mười hai tức tháng A-đa, hãy hủy diệt, tàn sát cho tuyệt gốc dân Do-thái, từ nhỏ tới lớn, kể cả đàn bà trẻ em và tịch thu hết tài sản của họ.

Bản Diễn Ý (BDY)

13Lính trạm vội vã đem thư đến khắp các tỉnh trong đế quốc, định ngày 13 tháng 12 là ngày tàn sát, tiêu diệt người Do-thái từ trẻ đến già, luôn cả phụ nữ trẻ em, và cướp đoạt tài sản của họ.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

14Để cho chiếu chỉ được tuyên bố trong mỗi tỉnh, có bổn sao lục đem rao cho các dân tộc biết, hầu cho chúng đều sẵn sàng về ngày đó.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

14Bản sao của sắc chỉ ấy cũng được ban hành ở mỗi tỉnh dưới hình thức sắc lệnh để công bố và kêu gọi mọi dân tộc trong vương quốc phải chuẩn bị sẵn sàng cho ngày đó.

Bản Dịch Mới (NVB)

14phải ban hành một bản sao của văn thư thành đạo luật trong mọi tỉnh, và công bố cho mọi dân tộc, để họ chuẩn bị sẵn sàng cho ngày đó.

Bản Phổ Thông (BPT)

14Bản sao sắc lệnh được gởi tới mỗi tiểu quốc như một đạo luật để mọi người đều biết và sẵn sàng thi hành.

Bản Diễn Ý (BDY)

14Một bản sao của văn thư được ban hành thành đạo luật cho mọi dân tộc hay biết, để sẵn sàng hành động trong ngày ấy.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

15Các lính trạm vâng lịnh vua vội vàng đi ra. Chiếu chỉ nầy cũng truyền ra tại kinh đô Su-sơ. Đoạn, vua và Ha-man ngồi lại uống rượu, còn thành Su-sơ đều hoảng kinh.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

15Theo lệnh vua, những người đưa thư cấp tốc mang sắc chỉ ra đi. Ngay tại Kinh Ðô Su-sa một chiếu chỉ về việc ấy cũng được ban hành. Sau đó, vua và Ha-man ngồi xuống uống rượu trong khi cả Kinh Ðô Su-sa đều bối rối kinh hoàng.

Bản Dịch Mới (NVB)

15Lính trạm cấp bách ra đi theo lệnh vua; sắc lệnh cũng được ban hành tại thành nội Su-san. Xong rồi, vua và Ha-man ngồi dự yến, trong khi dân thành Su-san hoang mang.

Bản Phổ Thông (BPT)

15Các sứ giả vội vã lên đường thi hành lệnh vua ban ra tại hoàng cung ở kinh đô Su-sơ. Vua và Ha-man ngồi uống rượu trong khi cả thành Su-sơ đều nhốn nháo.

Bản Diễn Ý (BDY)

15Theo lệnh vua, lính trạm khẩn cấp lên đường. Đồng thời, văn thư được công bố tại kinh đô Su-sa - Sau đó, vua và Ha-man ngồi uống rượu, trong khi cả thành Su-sa đều xôn xao.