So Sánh Bản Dịch(Tối đa 6 bản dịch)


Vajtswv Txojlus(HWB)

Bản Truyền Thống 1926(VI1934)

Bản Hiệu Đính Truyền Thống(RVV11)

Bản Dịch 2011(BD2011)

Bản Dịch Mới(NVB)

Bản Phổ Thông(BPT)

Vajtswv Txojlus (HWB)

1Xyoo uas Vajntxwv Uxiyas tuag, kuv pom tus TSWV zaum saum nws lub zwmtxwv uas nyob siab heev, thiab nws lub tsho nthuav puv nkaus hauv lub Tuamtsev.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

1Về năm vua Ô-xia băng, tôi thấy Chúa ngồi trên ngôi cao sang, vạt áo của Ngài đầy dẫy đền thờ.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

1Vào năm vua Ô-xia băng hà, tôi thấy Chúa ngự trên ngai rất cao, vạt áo của Ngài đầy dẫy đền thờ.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

1Vào năm Vua U-xi-a băng hà, tôi thấy Chúa đang ngự trên ngai, cao xa vời vợi; vạt vương bào Ngài tràn khắp đền thờ.

Bản Dịch Mới (NVB)

1Vào năm Vua Ô-xia băng hà, tôi thấy Chúa ngồi trên ngai cao cả, tôn quý; thân áo Ngài đầy dẫy đền thờ.

Bản Phổ Thông (BPT)

1Vào năm vua U-xia qua đời, tôi thấy CHÚA ngồi trên ngôi cao cả. Vạt áo Ngài phủ đầy đền thờ.

Vajtswv Txojlus (HWB)

2Muaj ib co xelafees sawv puagncig tus TSWV; ib tug xelafees twg muaj rau phab tis: ob phab tis npog ntsejmuag, ob phab tis npog lub cev thiab ob phab tis ya.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

2Những sê-ra-phim đứng bên trên Ngài; mỗi sê-ra-phim có sáu cánh, hai cái che mặt, hai cái che chân và hai cái dùng để bay.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

2Các sê-ra-phim đứng chầu quanh Ngài. Mỗi vị có sáu cánh: hai cái che mặt, hai cái che chân, và hai cái dùng để bay.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

2Các vị hỏa thần đứng hầu bên trên; mỗi vị có sáu cánh; hai cánh che mặt, hai cánh che chân, và hai cánh dùng để bay.

Bản Dịch Mới (NVB)

2Phía trên ngai có các sê-ra-phim đứng hầu. Mỗi sê-ra-phim có sáu cánh, hai cánh che mặt, hai cánh che chân và hai cánh để bay.

Bản Phổ Thông (BPT)

2Các thiên binh bằng lửa đứng phía trên Ngài. Mỗi thiên binh có sáu cánh: hai cánh che mặt, hai cánh che chân, và hai cánh dùng để bay.

Vajtswv Txojlus (HWB)

3Lawv ib tug hais rau ib tug hais tias,“Dawbhuv, dawbhuv, dawbhuv! Vajtswv tusuas muaj hwjchim loj kawg nkaus, nws yog tus dawbhuv!Nws lub tshwjchim ci ntsa iab thoob plaws hauv qab ntuj.”

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

3Các sê-ra-phim cùng nhau kêu lên rằng: Thánh thay, thánh thay, thánh thay là Đức Giê-hô-va vạn quân! Khắp đất đầy dẫy sự vinh hiển Ngài!

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

3Các sê-ra-phim cùng nhau tung hô rằng:“Thánh thay, thánh thay, thánh thay là Đức Giê-hô-va vạn quân!Khắp đất đầy dẫy vinh quang Ngài!”

Bản Dịch 2011 (BD2011)

3Các vị đó nói với nhau và hô to rằng,“Thánh thay, thánh thay, thánh thay là CHÚA các đạo quân;Khắp đất tràn đầy vinh quang Ngài!”

Bản Dịch Mới (NVB)

3Các sê-ra-phim gọi nhau và hô lên: “Thánh thay, thánh thay, thánh thay là CHÚA Vạn Quân, Vinh quang Ngài đầy dẫy khắp đất.”

Bản Phổ Thông (BPT)

3Các Xê-ra-phim kêu lên như sau: “Thánh thay, thánh thay, thánh thay là CHÚA Toàn Năng. Vinh hiển Ngài đầy dẫy đất.”

Vajtswv Txojlus (HWB)

4Lawv tej suab hais lus ntawd ua rau ob tug ncej qhovrooj ua zog koog thiab muaj pa ncho auv niab puv nkaus hauv lub Tuamtsev.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

4Nhân tiếng kêu đó, các nền ngạch cửa rúng động, và đền đầy những khói.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

4Tiếng tung hô ấy vang dội làm cho các trụ cửa nơi ngưỡng cửa rung chuyển, và đền thờ đầy dẫy khói.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

4Những tiếng hô đó làm rúng động các trụ cửa đền thờ, và khắp đền thờ đều bị khói tỏa mịt mù.

Bản Dịch Mới (NVB)

4Vì tiếng hô, các then cài nơi ngưỡng cửa rung chuyển, và đền đầy dẫy khói.

Bản Phổ Thông (BPT)

4Tiếng kêu của các Xê-ra-phim khiến mọi khung cửa rung chuyển, trong khi đền thờ dầy đặc khói.

Vajtswv Txojlus (HWB)

5Kuv tau hais tias, “Kuv tsis muaj chaw cia siab rau leejtwg hlo li! Zaum no kuv tuag lauj, rau qhov tej lus uas kuv hais txhua lo puavleej txhaum, thiab kuv yog ib tug neeg uas nrog cov neeg hais lus phem lus qias nyob ua ke xwb. Txawm yog li ntawd los kuv lub qhovmuag twb pom kiag tus Vajntxwv uas yog tus TSWV tus uas muaj hwjchim loj kawg nkaus lawm.”

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

5Bấy giờ tôi nói: Khốn nạn cho tôi! Xong đời tôi rồi! Vì tôi là người có môi dơ dáy, ở giữa một dân có môi dơ dáy, bởi mắt tôi đã thấy Vua, tức là Đức Giê-hô-va vạn quân!

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

5Tôi liền kêu lên: “Khốn cho tôi! Tôi chết mất! Vì tôi là người có môi ô uế ở giữa một dân có môi ô uế, bởi mắt tôi đã thấy Vua, tức là Đức Giê-hô-va vạn quân!”

Bản Dịch 2011 (BD2011)

5Khi ấy tôi thốt lên,“Khốn thay cho tôi! Tôi chắc phải chết rồi,Vì tôi là người có môi ô uế,Sống giữa một dân có môi ô uế,Thế mà tôi lại được thấy Vua, Là CHÚA các đạo quân!”

Bản Dịch Mới (NVB)

5Tôi nói: “Khốn nạn cho tôi! Tôi chết mất! Vì tôi là người có môi bẩn thỉu, sống giữa một dân có môi bẩn thỉu; vì mắt tôi đã thấy Vua, tức là CHÚA Vạn Quân.”

Bản Phổ Thông (BPT)

5Tôi kêu lên, “Thôi, đời tôi tàn rồi. Tôi không tinh sạch, ở giữa một dân không tinh sạch, nhưng tôi đã thấy Vua, là CHÚA Toàn Năng.”

Vajtswv Txojlus (HWB)

6Ces txawm muaj ib tug xelafees ya los cuag kuv; nws muab ciaj tais tau ib lub hluavncaig cig liab ploog tom lub thaj nqa los rau ntawm kuv.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

6Bấy giờ một sê-ra-phim bay đến tôi, tay cầm than lửa đỏ mà đã dùng kềm gắp nơi bàn thờ,

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

6Bấy giờ, một trong các sê-ra-phim bay đến tôi, trong tay cầm than lửa đỏ đã dùng kẹp gắp từ bàn thờ.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

6Bấy giờ, một vị hỏa thần bay đến tôi, tay cầm một than lửa đỏ đã lấy kẹp gắp ra từ bàn thờ.

Bản Dịch Mới (NVB)

6Bấy giờ một trong các sê-ra-phim bay đến tôi, tay cầm than lửa đỏ đã dùng cặp gắp từ bàn thờ.

Bản Phổ Thông (BPT)

6Một trong các Xê-ra-phim dùng cái kẹp lấy than lửa đỏ nơi bàn thờ. Rồi người bay đến tôi trong tay cầm than lửa đỏ.

Vajtswv Txojlus (HWB)

7Nws tuav nkaus kuv ob daim dincauj thiab muab lub hluavncaig ntawd tso plhuav rau ntawm kuv ob daim dincauj thiab hais tias, “Nimno koj tej kev txhaum twb yaj tas, thiab kuv twb zam koj lub txim lawm, rau qhov lub hluavncaig no twb chwv koj ob daim dincauj lawm.”

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

7để trên miệng ta, mà nói rằng: Nầy, cái nầy đã chạm đến môi ngươi; lỗi ngươi được bỏ rồi, tội ngươi được tha rồi.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

7Vị ấy đưa than lửa đỏ chạm vào miệng tôi, và nói: “Đây, cái nầy đã chạm đến môi ngươi, lỗi ngươi đã được xóa rồi, tội ngươi được tha rồi.”

Bản Dịch 2011 (BD2011)

7Vị hỏa thần ấy cầm than lửa đó chạm vào miệng tôi và nói, “Nầy, vật nầy đã chạm vào môi ngươi, tội ngươi đã được cất bỏ, lỗi ngươi đã được xóa sạch.”

Bản Dịch Mới (NVB)

7Sê-ra-phim đó sờ vào miệng tôi và bảo: “Nầy, cái nầy đã đụng đến môi ngươi; lỗi ngươi đã được xóa, tội ngươi đã được tha.”

Bản Phổ Thông (BPT)

7Người lấy than lửa đụng vào môi tôi và bảo rằng, “Nầy, tội ngươi đã được tha vì than nầy đã chạm môi ngươi. Tội ngươi đã được xóa bỏ rồi.”

Vajtswv Txojlus (HWB)

8Ces kuv hnov tus TSWV nug hais tias, “Kuv yuav txib leejtwg mus? Leejtwg yuav ua tus sawv cev ntawm peb mus?”Ces kuv teb hais tias, “Kuv nyob ntawm no! Thov txib kuv mus!”

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

8Đoạn, tôi nghe tiếng Chúa phán rằng: Ta sẽ sai ai đi? Ai sẽ đi cho chúng ta? Tôi thưa rằng: Có tôi đây; xin hãy sai tôi.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

8Lúc ấy, tôi nghe tiếng Chúa phán: “Ta sẽ sai ai đi? Ai sẽ đi cho chúng ta?” Tôi thưa: “Có con đây, xin Chúa sai con!”

Bản Dịch 2011 (BD2011)

8Bấy giờ, tôi nghe có tiếng Chúa phán, “Ta sẽ sai ai đi? Ai sẽ đi cho Chúng Ta?” Tôi đáp, “Thưa có con đây. Xin sai con.”

Bản Dịch Mới (NVB)

8Và tôi nghe tiếng Chúa phán: “Ta sẽ sai ai đi? Ai sẽ đi cho chúng ta?” Tôi thưa: “Dạ, có tôi đây, xin hãy sai tôi.”

Bản Phổ Thông (BPT)

8Rồi tôi nghe tiếng CHÚA hỏi, “Ta sẽ sai ai đi? Ai bằng lòng đi cho chúng ta?”Tôi liền thưa, “Có tôi đây. Xin Ngài hãy sai tôi!”

Vajtswv Txojlus (HWB)

9Thiab nws hais rau kuv hais tias, “Koj cia li mus thiab hais rau cov neeg sawvdaws li no: ‘Nej mloog tas mloog thiab, tiamsis nej tsis totaub; nej saib tas saib thiab, tiamsis nej tsis pom muaj dabtsi tshwmsim li.’ ”

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

9Ngài phán: Đi đi! nói với dân nầy rằng: Các ngươi hãy nghe, nhưng chẳng hiểu chi; hãy xem, nhưng chẳng thấy chi.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

9Ngài phán: “Hãy đi và nói với dân nầy rằng:‘Hãy nghe để mà nghe,Nhưng các ngươi sẽ chẳng hiểu gì;Hãy xem để mà xem,Nhưng các ngươi sẽ chẳng thấy chi.’

Bản Dịch 2011 (BD2011)

9Ngài phán, “Hãy đi và nói với dân nầy rằng, ‘Các ngươi cứ nghe mà chẳng hiểu chi, cứ nhìn mà chẳng thấy gì.’

Bản Dịch Mới (NVB)

9Ngài phán: “Hãy đi và nói với dân này rằng: ‘Nghe thì cứ nghe, nhưng không hiểu; Nhìn thì cứ nhìn nhưng không nhận biết.’

Bản Phổ Thông (BPT)

9Rồi CHÚA phán, “Hãy đi bảo dân nầy như sau: ‘Các ngươi nghe thì nghe, nhưng không hiểu. Các ngươi nhìn thì nhìn, nhưng không học được.’

Vajtswv Txojlus (HWB)

10Ces nws hais rau kuv hais tias, “Cia li ua kom haivneeg no lub siab ruam, pobntseg lag thiab qhovmuag dig kom lawv pobntseg los tsis hnov lus, qhovmuag los tsis pom kev thiab hais lus los tsis totaub. Yog tsis ua li ntawd, nyob tsam lawv ho tig los cuag kuv ces kuv kho lawv zoo lawm.”

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

10Hãy làm cho dân ấy béo lòng, nặng tai, nhắm mắt, e rằng mắt nó thấy được, tai nó nghe được, lòng nó hiểu được, nó trở lại và được chữa lành chăng!

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

10Hãy làm cho dân ấy tối dạ,Nặng tai, nhắm mắt;Kẻo mắt họ thấy được,Tai họ nghe được,Lòng họ hiểu được,Rồi họ trở lại và được chữa lành chăng!”

Bản Dịch 2011 (BD2011)

10Hãy làm cho lòng dân nầy ra đần độn,Cho tai chúng nặng,Cho mắt chúng nhắm lại; Kẻo mắt chúng thấy được,Tai chúng nghe được,Lòng chúng hiểu được,Mà chúng trở lại và được chữa lành chăng.”

Bản Dịch Mới (NVB)

10Hãy làm cho lòng dân này chai lì,Tai nặng, Mắt nhắm, E rằng mắt chúng nó thấy được, Tai chúng nó nghe được, Lòng chúng nó hiểu được Và quay trở lại rồi được chữa lành.”

Bản Phổ Thông (BPT)

10Hãy làm cho trí dân nầy đần độn. Hãy bít lỗ tai chúng lại. Hãy bịt mắt chúng. Nếu không chúng sẽ hiểu điều mình thấy bằng mắt và nghe bằng tai. Trí chúng hiểu được rồi trở lại cùng ta để được chữa lành.”

Vajtswv Txojlus (HWB)

11Kuv thiaj nug hais tias, “Tus TSWV, yuav zoo li no mus txog thaum twg?”Tus TSWV teb hais tias, “Mus txog thaum tej nroog raug puastsuaj tas tsis muaj neeg nyob lawm, mus txog thaum tej tsev khoob lug tsis muaj neeg nyob thiab mus txog thaum lub tebchaws nyob qhuav qhawv li tej roob mojsab qhua.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

11Tôi lại nói: Lạy Chúa, cho đến chừng nào? Ngài đáp rằng: Cho đến chừng các thành bị hoang vu, không có dân ở, nhà không có người, và đất đã nên hoang vu cả;

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

11Tôi hỏi: “Lạy Chúa, cho đến bao giờ?” Chúa trả lời:“Cho đến khi các thành bị bỏ hoang,Không có dân cư,Nhà không có người ở,Và đất đai trở nên hoang vu hoàn toàn;

Bản Dịch 2011 (BD2011)

11Tôi thưa, “Lạy Chúa, con phải làm như vậy bao lâu?” Ngài đáp, “Cho đến khi các thành trở nên hoang vắng, không dân cư,Nhà cửa không còn người ở,Ruộng vườn bị bỏ hoang hoàn toàn;

Bản Dịch Mới (NVB)

11Tôi hỏi: “Lạy Chúa, cho đến khi nào?” Ngài đáp: “Cho đến khi các thành hoang vắng Không người cư ngụ, Nhà cửa không người ở, Đất ruộng hoàn toàn hoang tàn.

Bản Phổ Thông (BPT)

11Nên tôi hỏi, “Thưa CHÚA, tôi phải làm như thế nầy trong bao lâu?”Ngài đáp, “Cho đến khi các thành bị tiêu diệt và dân cư không còn, cho đến khi các nhà cửa bỏ hoang không người ở, cho đến khi đất bị tiêu diệt và hoang phế.

Vajtswv Txojlus (HWB)

12Kuv yuav ntiab tej neeg khiav mus ploj qab ntais thiab kom lub tebchaws ciaj nroj tsuag tas nyob ntsiag to.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

12cho đến chừng Đức Giê-hô-va dời dân đi xa, và trong xứ rất là tiêu điều.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

12Cho đến khi Đức Giê-hô-va dời dân đi xa,Và nhiều nơi trong xứ trở nên điêu tàn.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

12Cho đến khi CHÚA đuổi mọi người đi xa,Và trong xứ chỉ còn tiêu điều hoang vắng.

Bản Dịch Mới (NVB)

12Cho đến khi CHÚA đã đuổi dân đi xa, Nhiều nơi trong xứ bị hoang phế.

Bản Phổ Thông (BPT)

12CHÚA sẽ đày dân chúng đi rất xa, và đất sẽ bị bỏ hoang.

Vajtswv Txojlus (HWB)

13Txawm yog muaj neeg seem nyob hauv txog ib feem nkaum xwb los lawv tseem yuav raug puastsuaj tas. Thiab lawv yuav zoo ib yam li tej ntoo qhib uas luag muab ntov tas tshuav lub hauvpaus lawm xwb.”(Lub hauvpaus ntoo ntawd piv txog Vajtswv haivneeg uas yuav rov hlav tuaj dua tshiab.)

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

13Giả sử còn lại một phần mười dân cư tại đó, họ sẽ lại bị thiêu nuốt. Nhưng, như khi người ta hạ cây thông cây dẻ, chừa gốc nó lại, thì cũng vậy, giống thánh là gốc của nó.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

13Cho dù một phần mười còn lại trong số họSẽ bị thiêu nuốt;Nhưng, như khi người ta đốn cây thông, cây sồi còn chừa gốc,Thì giống thánh là gốc của nó.”

Bản Dịch 2011 (BD2011)

13Thậm chí, nếu chỉ còn một phần mười dân sót lại,Chúng cũng sẽ bị diệt vong,Giống như cây dẻ hay cây sồi sau khi bị đốn, chỉ còn lại cái gốc;Nhưng dù sao mầm giống thánh vẫn còn tiềm tàng trong gốc ấy.”

Bản Dịch Mới (NVB)

13Dù một phần mười dân cư còn lại tại đó, Họ cũng sẽ bị thiêu hủy.Như cây dẻ, cây sồi Khi bị đốn vẫn còn gốc Thì dòng giống thánh là gốc của nó.”

Bản Phổ Thông (BPT)

13Một phần mười dân cư sẽ còn lại trong xứ, nhưng số đó cũng sẽ bị tiêu diệt luôn. Chúng như cây sồi còn lại gốc sau khi thân bị đốn xuống. Những người còn sót lại sẽ như gốc đâm chồi trở lại.”