So Sánh Bản Dịch(Tối đa 6 bản dịch)


Vajtswv Txojlus(HWB)

Bản Truyền Thống 1926(VI1934)

Bản Hiệu Đính Truyền Thống(RVV11)

Bản Dịch 2011(BD2011)

Bản Dịch Mới(NVB)

Bản Phổ Thông(BPT)

Vajtswv Txojlus (HWB)

1“Tus uas tuaj hauv lub nroog Npauxelas uas nyob hauv tebchaws Edoos tuaj yog leejtwg? Tus uas hnav cev ris tsho liab uas taug kev khov kho tuaj ntawd yog leejtwg?” Twb yog tus TSWV uas muaj hwjchim cawm tau neeg dim tabtom tuaj qhia nws txojkev kovyeej.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

1Đấng từ Ê-đôm đến, từ Bốt-ra tới, mặc áo nhuộm, bận đồ hoa mĩ, cậy sức mạnh cả thể, kéo bộ cách oai nghiêm, là ai? --- Ấy, chính ta, là Đấng dùng sự công bình mà nói, và có quyền lớn để cứu rỗi! ---

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

1Đấng từ thành Bốt-ra của Ê-đôm đến,Mặc áo đỏ thẫm, trang phục lộng lẫy,Bước đi oai vệ với sức mạnh vĩ đại,Đấng ấy là ai?“Ấy chính là Ta, Đấng phán lời công chính,Đấng có quyền năng cứu rỗi!”

Bản Dịch 2011 (BD2011)

1Ai đang từ Ê-đôm đi đến, mà y phục của mình đã nhuộm đỏ tại Bốt-ra?Ai đã mặc y phục thật huy hoàng rực rỡ, và bước đi với quyền phép lớn lao?“Ấy chính là Ta,Ðấng nói điều công chính,Ðấng giải cứu quyền năng.”

Bản Dịch Mới (NVB)

1Ai là Đấng từ Ê-đôm đến? Ai là Đấng mặc áo đỏ thẫm đến từ Bốt-ra?Ai trang phục lộng lẫy, Tiến bước với sức mạnh vĩ đại. “Chính là Ta, Đấng phán lời công chính, Đấng quyền năng để cứu rỗi.”

Bản Phổ Thông (BPT)

1Người đang đến từ Ê-đôm, từ thành Bốt-ra,mặc áo quần đỏ rực là ai?Ai ăn mặc áo quần sang trọngvà đi tới hiên ngang cùng với quyền năng mình?Ngài phán, “Ta nói ra lẽ phải.Ta có quyền cứu ngươi.”

Vajtswv Txojlus (HWB)

2“Vim li cas tus TSWV cev ris tsho thiaj liab zoo li tus txivneej uas tsuj txiv hmab ua cawv cev ris tsho?”

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

2Áo ngươi có màu đỏ, áo xống của ngươi như của người đạp bàn ép rượu là vì sao?

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

2Vì sao y phục của Chúa đỏ thắm,Trang phục Ngài như trang phục của người đạp bồn nho?

Bản Dịch 2011 (BD2011)

2Thưa, tại sao y phục của Ngài lại mang màu đỏ thắm?Sao áo quần của Ngài giống như áo quần của kẻ đạp bồn nho?

Bản Dịch Mới (NVB)

2Tại sao y phục Ngài nhuộm đỏ? Ngài trang phục như người đạp bồn nho.

Bản Phổ Thông (BPT)

2Có người hỏi, “Sao áo quần ngươi đỏ tươinhư thể ngươi đã dẫm lên trái nho làm rượu?”

Vajtswv Txojlus (HWB)

3Tus TSWV teb hais tias, “Kuv muab txhua haivneeg tsuj ib yam li tsuj txiv hmab, mas tsis muaj leejtwg tuaj pab kuv li. Kuv chim, kuv thiaj tsuj lawv thiab lawv tej ntshav txaws lo kuv cev ris tsho tas.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

3Chỉ một mình ta đạp bàn ép rượu, trong vòng các dân chẳng từng có ai với ta. Trong cơn giận ta đã đạp lên; đương khi thạnh nộ ta đã nghiền nát ra: máu tươi họ đã vảy ra trên áo ta, áo xống ta đã vấy hết.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

3“Chỉ một mình Ta đạp nơi bồn ép nho,Trong các dân chẳng ai ở với Ta.Ta đã đạp lên chúng trong cơn tức giận,Giẫm nát chúng trong cơn thịnh nộ của Ta;Máu của chúng như nước nho văng tung tóe lên áo Ta,Toàn bộ y phục Ta đều vấy máu cả.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

3“Một mình Ta đã đạp bồn nho ấy;Trong muôn dân chẳng ai đạp với Ta;Ta đã đạp chúng trong khi Ta nóng giận;Ta đã giẫm nát chúng trong cơn thịnh nộ của Ta;Máu của chúng đã văng lên quần áo Ta;Toàn bộ y phục của Ta đã bị vấy đầy máu chúng.

Bản Dịch Mới (NVB)

3“Một mình Ta đã đạp, ép nho, Không có người nào từ các dân ở với Ta. Trong cơn giận, Ta đã đạp chúng, Trong cơn thịnh nộ, Ta đã chà đạp chúng. Máu của chúng bắn lên áo Ta, Toàn thể y phục của Ta bị vấy hết.

Bản Phổ Thông (BPT)

3Ngài đáp, “Chỉ một mình ta dẫm lên bàn ép rượu,không ai trong các dân giúp ta.Ta nổi giận và dẫm lên các dân,và chà đạp họ trong cơn giận ta.Máu vấy lên quần áo ta,làm hoen ố y phục ta.

Vajtswv Txojlus (HWB)

4Twb txog lub sijhawm uas kuv cawm kuv haivneeg thiab rau txim rau lawv cov yeebncuab lawm.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

4Vì ta đã định ngày báo thù trong lòng ta, và năm cứu chuộc của ta đã đến.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

4Vì lòng Ta đã định ngày báo thù,Và năm cứu chuộc của Ta đã đến.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

4Vì đã đến ngày báo trả mà lòng Ta đã quyết;Năm cứu chuộc của Ta nay đã đến rồi.

Bản Dịch Mới (NVB)

4Vì Ta đã định ngày báo thù trong lòng Và năm của những kẻ được cứu chuộc của Ta đã đến.

Bản Phổ Thông (BPT)

4Ta đã chọn một thời điểm để báo thù,và ta mang sự giải cứu đến với ta.

Vajtswv Txojlus (HWB)

5Kuv tsa qhovmuag ntsia ibncig tsis muaj leejtwg tuaj pab kuv, kuv xav tsis thoob li. Tiamsis vim kuv txojkev chim ua rau kuv muaj zog heev, kuv thiaj kovyeej.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

5Ta đã xem, chẳng có ai đến giúp ta; ta lấy làm lạ vì chẳng có ai nâng đỡ ta! Cánh tay ta bèn cứu ta, sự thạnh nộ ta bèn nâng đỡ ta.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

5Ta nhìn xem, không ai giúp đỡ;Ta ngạc nhiên, chẳng ai hỗ trợ;Nên chính cánh tay Ta cứu giúp Ta,Cơn thịnh nộ Ta hỗ trợ Ta.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

5Ta nhìn quanh, nhưng chẳng thấy ai có thể giúp;Ta ngỡ ngàng khi không một kẻ phụ tay;Vì thế Ta phải tự tay giải quyết lấy cho mình,Trong cơn giận, chính tay Ta đã giúp Ta thực hiện.

Bản Dịch Mới (NVB)

5Ta nhìn xem nhưng không ai giúp, Ta ngạc nhiên nhưng không ai hỗ trợ. Nên Ta đã dùng cánh tay Ta để tạo chiến thắng cho Ta Và cơn thịnh nộ của Ta đã hỗ trợ Ta.

Bản Phổ Thông (BPT)

5Ta nhìn quanh nhưng không thấy ai đến giúp ta.Ta sửng sốt vì không ai yểm trợ ta.Cho nên ta dùng quyền năng mình để giải cứu dân ta;sự tức giận ta yểm trợ ta.

Vajtswv Txojlus (HWB)

6Vim kuv txojkev chim, kuv thiaj muab txhua haivneeg los tsuj paim pes txua. Kuv muab lawv cov ntshav hliv rau hauv av.”

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

6Ta đã giày đạp các dân trong cơn giận; đã khiến chúng nó say vì sự thạnh nộ ta, và đã đổ máu tươi chúng nó ra trên đất.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

6Trong cơn tức giận, Ta đã giày đạp các dân;Ta khiến chúng say vì cơn thịnh nộ của Ta,Và làm cho máu chúng đổ ra trên đất.”

Bản Dịch 2011 (BD2011)

6Ta đã giày đạp muôn dân trong cơn tức giận,Bắt chúng phải uống chén thịnh nộ của Ta,Và làm chúng phải đổ máu khắp nơi trên đất.”

Bản Dịch Mới (NVB)

6Ta chà đạp các dân trong cơn giận, Ta khiến chúng nó say trong cơn thịnh nộ Và Ta đổ máu chúng nó ra trên đất”.

Bản Phổ Thông (BPT)

6Trong khi ta nổi giận,ta dẫm lên các dân.Trong cơn giận ta trừng phạt họ,đổ máu họ xuống đất.”

Vajtswv Txojlus (HWB)

7Kuv yog Yaxayas, kuv qhia tusTSWV txojkev hlub uas tsis paub kawg;Kuv qhuas nws vim tej uas nws tauua rau peb tas los lawm.Nws foom koob hmoov nplua miasrau cov Yixalayees,rau qhov nws muaj lub siab hlub mus ibtxhis.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

7Ta sẽ nói đến những sự nhân từ của Đức Giê-hô-va, và sự ngợi khen Đức Giê-hô-va, y theo mọi sự Đức Giê-hô-va đã ban cho chúng ta, và thuật lại phước lớn Ngài đã ban cho nhà Y-sơ-ra-ên, y theo những sự thương xót và sự nhân từ vô số của Ngài.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

7Tôi xin nhắc lại sự nhân từ của Đức Giê-hô-va,Và sự ca ngợi Đức Giê-hô-va,Vì mọi điều Đức Giê-hô-va đã làm cho chúng ta,Và những ơn phước lớn lao Ngài đã ban cho nhà Y-sơ-ra-ênTheo lòng thương xót,Và sự nhân từ vô biên của Ngài.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

7Tôi xin nhắc lại tình thương của CHÚA,Cùng dâng lời ca ngợi CHÚA,Vì mọi việc diệu kỳ CHÚA đã thực hiện cho chúng tôi,Vì lòng tốt lớn lao của Ngài đối với nhà I-sơ-ra-ên,Mà Ngài đã tỏ cho họ theo ơn thương xót của Ngài,Và theo tình thương vô lượng của Ngài,

Bản Dịch Mới (NVB)

7Tôi sẽ nhắc lại tình yêu thương của CHÚACùng những lời ca ngợi CHÚAVì tất cả những gì CHÚA đã làm cho chúng ta Và sự tốt lành lớn lao Ngài ban cho nhà Y-sơ-ra-ên; Là những điều Ngài đã ban cho chúng ta. Theo như lòng thương xót và tình yêu thương lớn lao của Ngài.

Bản Phổ Thông (BPT)

7Tôi sẽ thuật lại lòng nhân từ CHÚAvà ca ngợi Ngài về những việc Ngài làm.Tôi sẽ ca ngợi CHÚA về những việc tốt lành Ngài làm cho chúng tavà lòng nhân từ Ngài đối cùng dân Ít-ra-en.Ngài đã tỏ lòng từ bi lớn lao cho chúng tavà rất nhân từ đối với chúng ta.

Vajtswv Txojlus (HWB)

8Tus TSWV hais tias, “Lawv yog kuv haivneeg; lawv yuav tsis dag kuv ib zaug li.” Yog li ntawd, nws thiaj cawm lawv

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

8Vì Ngài có phán: Thật, chúng nó là dân ta, tức con cái sẽ chẳng làm dối; vậy Ngài đã làm Đấng Cứu họ.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

8Vì Ngài đã phán: “Thật, họ là dân Ta,Tức là con cái sẽ chẳng lừa dối.”Và Ngài làm Đấng Cứu Rỗi họ.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

8Vì Ngài đã phán,“Chắc chắn chúng là con dân Ta,Những đứa con không lừa dối của Ta.” Vì thế Ngài đã trở thành Ðấng Giải Cứu của họ.

Bản Dịch Mới (NVB)

8Ngài phán: “Thật, họ là dân Ta; Những đứa con không lừa dối.” Và Ngài đã trở thành Đấng Cứu Rỗi của họ.

Bản Phổ Thông (BPT)

8Ngài phán, “Đây là dân ta;con cái ta sẽ không nói dối với ta.”Nên Ngài giải cứu chúng.

Vajtswv Txojlus (HWB)

9kom dim ntawm lawv tej kev txomnyem. Twb yog tus TSWV tso nws tus timtswv los cawm lawv ntag. Vim nws txojkev hlub thiab kev ua siab ntev nws thiaj tso lawv dim. Nws yeej ibtxwm saib xyuas lawv puag thaum ub los,

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

9Hễ khi dân Ngài bị khốn khổ, chính Ngài cũng khốn khổ, và thiên sứ trước mặt Ngài đã cứu họ rồi. Chính Ngài đã lấy lòng yêu đương thương xót mà chuộc họ. Ngài đã ẵm bồng, và mang họ trong các ngày thuở xưa.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

9Mỗi khi dân Ngài bị khốn khổ thì chính Ngài cũng khốn khổ,Và thiên sứ trước mặt Ngài đã cứu họ.Vì tình yêu và lòng thương xót,Chính Ngài đã cứu chuộc họ;Ngài đã bồng ẵm và mang lấy họ suốt các ngày thuở xưa.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

9Trong mọi khổ đau hoạn nạn của họ, Ngài cùng chịu những khổ đau hoạn nạn ấy với họ,Thiên sứ ở trước mặt Ngài đã được sai đến giải cứu họ; Vì tình thương và lòng thương xót của Ngài, Ngài đã cứu chuộc họ;Ngài đã nhấc họ lên và bồng ẵm họ suốt những ngày xa xưa.

Bản Dịch Mới (NVB)

9Trong mọi cơn khốn quẫn của họ, Ngài cũng chịu khốn quẫnVà thiên sứ trước mặt Ngài đã cứu họ. Vì tình yêu thương và lòng thương xót, Chính Ngài đã cứu chuộc họ, Nâng họ lên và bồng bế họ suốt trong những ngày xưa.

Bản Phổ Thông (BPT)

9Khi chúng bị khốn khổ,Ngài cũng chịu khốn khổ.Ngài sai thiên sứ đến giải cứu chúng.Vì lòng yêu thương và nhân từ,Ngài giải cứu chúng.Từ lâu Ngài đã nâng đỡ và bồng ẵm chúng.

Vajtswv Txojlus (HWB)

10tiamsis lawv ntxeev siab rau nws thiab ua rau nws tus ntsujplig dawbhuv tu siab; yog li ntawd nws thiaj ua yeebncuab rau lawv thiab tawmtsam lawv.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

10Song họ đã bội nghịch, đã làm cho Thần thánh Ngài buồn rầu, Ngài bèn trở làm cừu thù với họ, và chính mình Ngài chinh chiến cùng họ.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

10Nhưng họ đã nổi loạnVà làm buồn Thánh Linh của Ngài.Vì thế, Ngài trở thành kẻ thù của họ,Chính Ngài chiến đấu chống lại họ.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

10Nhưng họ đã nổi loạn và làm buồn Ðức Thánh Linh của Ngài,Nên Ngài đã phải trở thành kẻ thù của họ,Rồi Ngài đã chiến đấu để chinh phục họ trở lại.

Bản Dịch Mới (NVB)

10Nhưng họ đã phản nghịch Và làm buồn lòng Đức Thánh Linh của Ngài; Cho nên Ngài đã trở thành kẻ thù của họ; Chính Ngài chiến đấu chống lại họ.

Bản Phổ Thông (BPT)

10Nhưng chúng chống nghịch Ngàilàm buồn Thánh Linh Ngài.Nên Ngài trở thành thù nghịch chúng, và đánh lại chúng.

Vajtswv Txojlus (HWB)

11Tiamsis lawv nco txog txheej thaum ub, tiam uas tus TSWV tus tubtxib Mauxes nyob, lawv thiaj nug hais tias, “Nimno tus TSWV uas cawm nws haivneeg cov thawjcoj uas hla hiavtxwv los nyob qhov twg? Tus TSWV uas pub nws tus ntsujplig rau Mauxes nyob qhov twg?

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

11Bấy giờ dân nhớ lại ngày xưa, về Môi-se và dân sự người, mà nói rằng: Nào Đấng đã làm cho dân và người chăn bầy vật mình ra khỏi biển ở đâu? Nào Đấng đã đặt Thần thánh mình giữa dân sự ở đâu?

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

11Bấy giờ, dân Ngài nhớ lạiMôi-se ngày xưa và hỏi:“Đấng đã đem người chănVà bầy chiên lên khỏi biển ở đâu?Đấng đã đặt Thánh Linh của NgàiGiữa dân Ngài, ở đâu?”

Bản Dịch 2011 (BD2011)

11Bấy giờ dân Ngài nhớ lại những ngày xa xưa;Họ nhớ đến Mô-sê và đoàn dân theo ông ấy ra đi.Ðâu rồi Ðấng đã đem họ lên khỏi lòng biển cả,Dùng những người chăn dắt chăn bầy của Ngài?Ðâu rồi Ðấng đã đặt Thần của Ngài trong lòng họ,

Bản Dịch Mới (NVB)

11Bấy giờ họ nhớ lại ngày xưa; Nhớ đến Môi-se và dân Ngài nên hỏi: Đấng đã đem họ ra khỏi biển Cùng với những người chăn và bầy chiên của Ngài đâu rồi? Đấng đã đặt Đức Thánh Linh của Ngài Ở giữa họ đâu rồi?

Bản Phổ Thông (BPT)

11Nhưng rồi dân Ngài nhớ lại chuyện xưa,thuở mà Mô-se và dân Ít-ra-en ở với Ngài.CHÚA, Đấng đã mang dân mình qua biển cả,cùng với các cấp lãnh đạo của dân chúng đâu rồi?Đấng đặt Thánh Linh ở giữa họ,

Vajtswv Txojlus (HWB)

12Tus TSWV uas hais kom Mauxes ua tej txujci tseemceeb qhia nws lub hwjchim rau sawvdaws pom, nws muab hiavtxwv faib rau ob sab ua kev rau nws haivneeg taug los kom nws tau ntsejmuag mus ibtxhis nyob qhov twg lawm?”

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

12là Đấng lấy cánh tay vinh hiển đi bên tay hữu Môi-se; là Đấng đã rẽ nước ra trước mặt họ, đặng rạng danh vô cùng;

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

12Đấng khiến cánh tay vinh quang NgàiĐi bên phải Môi-se,Là Đấng đã rẽ nước ra trước mặt họ,Để rạng danh đời đời;

Bản Dịch 2011 (BD2011)

12Dùng cánh tay phải của Mô-sê để dẫn dắt họ ra đi?Bằng cánh tay vinh diệu của mình, Ngài đã rẽ nước ra trước mặt họ,Tạo cho Ngài một danh tiếng đời đời.

Bản Dịch Mới (NVB)

12Ai khiến cánh tay vinh hiển Ngài Đi bên phải Môi-se, Ai rẽ nước ra trước mặt họ Đặng lưu danh muôn đời?

Bản Phổ Thông (BPT)

12nắm tay phải dắt Mô-se,bằng quyền năng kỳ diệu,rẽ nước ra trước mặt họđể nổi danh mãi mãi,

Vajtswv Txojlus (HWB)

13Vim tus TSWV coj lawv kev los, lawv kotaw cuab nplua ib yam li tej nees qus thiab lawv tsis ntog li.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

13là Đấng đã dắt dân qua trên sóng đào, như ngựa chạy đồng bằng, và không sẩy bước.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

13Là Đấng đã dìu dắt dân Ngài vượt trên sóng đào,Như ngựa phi trong hoang mạc mà không vấp ngã.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

13Ðâu rồi Ðấng đã dẫn họ vượt qua các vực thẳm,Như ngựa phi vùn vụt giữa đồng hoang?Nhờ kinh nghiệm đó họ đã không vấp ngã.

Bản Dịch Mới (NVB)

13Ai đã dẫn họ qua các vực sâu Như ngựa trong sa mạc, Không hề vấp ngã?

Bản Phổ Thông (BPT)

13là Đấng đã dẫn dân chúng qua nước sâu đâu rồi?Như ngựa đi qua sa mạc,dân chúng không bị vấp ngã.

Vajtswv Txojlus (HWB)

14Tus TSWV coj nws haivneeg mus so ib yam li luag coj tej tsiaj mus rau lub hav uas muaj zaub mos nyoos. Nws coj nws haivneeg kev, nws lub npe thiaj muaj koob meej.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

14Thần của Đức Giê-hô-va đã khiến dân sự yên nghỉ, như bầy vật xuống nơi trũng. Cũng vậy, Ngài đã dắt dân mình đi đường, để cho rạng danh vinh hiển mình.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

14Thần của Đức Giê-hô-va đã khiến dân Ngài nghỉ ngơi,Như bầy súc vật xuống thung lũng tìm nơi nghỉ.Ngài dẫn dắt dân Ngài như thếĐể danh Ngài được vinh quang.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

14Như súc vật khoan thai đi vào thung lũng, Thần của CHÚA đã cho họ được an nghỉ.Thưa, Ngài đã dẫn dắt dân của Ngài như thế,Nên danh của Ngài đã vinh hiển lẫy lừng.

Bản Dịch Mới (NVB)

14Như bầy súc vật đi xuống thung lũng. Thần của CHÚA đã ban cho họ an nghỉ. Ngài đã dẫn dắt dân Ngài như thế Để làm danh Ngài vinh hiển.

Bản Phổ Thông (BPT)

14Như trâu bò đi xuống thung lũng,Thần Linh của CHÚA ban cho dân chúng một nơi an nghỉ.Lạy CHÚA, đó là cách Ngài dẫn dắt dân Ngài,vì thế mà Ngài nổi danh lạ lùng.

Vajtswv Txojlus (HWB)

15Tus TSWV, thov tsa koj lub qhovmuag saum ntuj uas yog koj qhov chaw dawbhuv uas muaj koj lub tshwjchim ci ntsa iab saib peb. Koj txojkev hlub thiab mob siab rau peb nyob qhov twg lawm? Koj tsis xam muaj peb li lawm los? Tus TSWV thov koj tsis txhob muab peb tso tseg.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

15Xin Chúa từ trên trời ngó xuống, từ chỗ ở thánh và vinh hiển của Ngài mà nhìn xem! Chớ nào lòng nóng nảy và công việc lớn Ngài ở đâu? Lòng ước ao sốt sắng và sự thương xót của Ngài bị ngăn trở đến cùng tôi.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

15Từ trên trời, xin Chúa nhìn xuống,Từ chỗ ở thánh và vinh quang của Ngài, xin Chúa xem!Lòng sốt sắng và công việc quyền năng của Ngài ở đâu?Sự xúc động và lòng thương xót của NgàiBị ngăn lại rồi ư!

Bản Dịch 2011 (BD2011)

15Xin Chúa từ trời nhìn xuống và xem,Tức từ nơi ngự thánh và vinh hiển của Ngài;Lòng nhiệt thành của Ngài và quyền năng của Ngài,Sự thúc giục trong lòng Ngài và ơn thương xót của Ngài dành cho con đâu rồi?Chẳng lẽ chúng đã bị kiềm hãm rồi sao?

Bản Dịch Mới (NVB)

15Từ trời xin Ngài hãy nhìn xuống, Từ nơi ở thánh và vinh hiển xin hãy xem. Lòng nhiệt thành và sức mạnh của Ngài ở đâu? Ngài đã thu lại tấm lòng tha thiết và thương xót chúng tôi.

Bản Phổ Thông (BPT)

15Lạy Chúa, xin hãy từ trời nhìn xuống,xin hãy nhìn chúng tôi từ nơi ở cao cảvà thánh khiết của Ngài trên trời.Tình yêu lớn lao và quyền năng Ngài đâu rồi?Sao CHÚA cất tình yêuvà lòng từ bi Ngài khỏi chúng tôi?

Vajtswv Txojlus (HWB)

16Tus TSWV, koj thiaj yog peb txiv. Txawm yog Anplahas thiab Yakhauj nkawd yog peb yawgkoob los nkawd yeej tsis paub txog peb li, tiamsis tus TSWV, tsuas yog koj tib leeg uas yog peb txiv, koj thiaj yog tus uas ibtxwm pab peb dim xwb.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

16Thật Ngài là Cha chúng tôi, dầu Áp-ra-ham chẳng biết chúng tôi, Y-sơ-ra-ên cũng chẳng nhận chúng tôi; hỡi Đức Giê-hô-va, Ngài là Cha chúng tôi, danh Ngài là Đấng Cứu chuộc chúng tôi từ trước đời đời.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

16Thật, Ngài là Cha chúng con;Dù Áp-ra-ham không biết chúng con,Và Y-sơ-ra-ên chẳng thừa nhận chúng con;Lạy Đức Giê-hô-va, Ngài vẫn là Cha chúng con,Danh Ngài là Đấng Cứu Chuộc chúng con từ trước vô cùng.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

16Vì chính Ngài là Cha của chúng con.Dù cho Áp-ra-ham không còn biết đến chúng con,Và dù cho I-sơ-ra-ên không còn nhìn nhận chúng con nữa,Thì CHÚA ôi, nguyện Ngài vẫn là Cha của chúng con;Từ muôn đời về trước, Danh Ngài vẫn là Ðấng Cứu Chuộc của chúng con.

Bản Dịch Mới (NVB)

16Thật, chính Ngài là Cha chúng tôi. Dù Áp-ra-ham không biết chúng tôi; Y-sơ-ra-ên không công nhận chúng tôi Thì Ngài, lạy CHÚA, vẫn là Cha chúng tôi. Danh Ngài là Đấng Cứu Chuộc chúng tôi từ muôn đời.

Bản Phổ Thông (BPT)

16Ngài là cha chúng tôi.Áp-ra-ham không biết chúng tôi là con cháu người,còn Ít-ra-en cũng không nhận ra chúng tôi.Lạy Chúa, Ngài là cha chúng tôi.Ngài được gọi là “Đấng từ xưa nay vẫn giải cứu chúng tôi.”

Vajtswv Txojlus (HWB)

17Vim li cas koj cia peb yuam kev ua tsis raws li koj txojkev lawm? Vim li cas koj cia peb tawv ncauj ua luaj, peb thiaj tso koj tseg lawm? Thov tig los saib koj cov tubtxib thiab koj haivneeg.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

17Hỡi Đức Giê-hô-va, sao để chúng tôi lầm lạc xa đường Ngài? sao để lòng chúng tôi cứng cỏi đến nỗi chẳng kính sợ Ngài? Xin hãy vì cớ các tôi tớ Ngài và các chi phái của cơ nghiệp Ngài mà trở lại!

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

17Lạy Đức Giê-hô-va, sao để chúng con lầm lạc khỏi đường Ngài?Sao để lòng chúng con cứng cỏi đến nỗi chẳng kính sợ Ngài?Vì các đầy tớ Ngài và các bộ tộc của cơ nghiệp Ngài,Xin Chúa trở lại!

Bản Dịch 2011 (BD2011)

17Lạy CHÚA, sao Ngài nỡ để chúng con xa lạc đường lối Ngài?Sao Ngài để cho lòng chúng con ra chai đá mà không kính sợ Ngài?Nay vì cớ các tôi tớ Ngài, vì cớ các chi tộc làm cơ nghiệp Ngài, cầu xin Ngài quay lại.

Bản Dịch Mới (NVB)

17Lạy CHÚA, sao Ngài để chúng tôi lầm lạc xa đường lối Ngài? Sao Ngài để lòng chúng tôi chai đá không kính sợ Ngài? Vì cớ các tôi tớ Ngài, Và vì cớ các chi tộc thuộc gia sản Ngài xin hãy trở lại.

Bản Phổ Thông (BPT)

17Lạy CHÚA, sao Ngài khiến chúng tôiđi lầm lạc khỏi đường lối Ngài?Sao Ngài làm cho chúng tôi ương ngạnh đến nỗi chúng tôi không tôn kính Ngài?Vì cớ chúng tôi xin hãy trở lại cùng chúng tôi,kẻ tôi tớ CHÚA thuộc về Ngài.

Vajtswv Txojlus (HWB)

18Peb yog koj haivneeg uas dawbhuv; peb raug yeebncuab raws khiav mus ib ntus, thiab peb cov yeebncuab muab koj lub chaw uas dawbhuv ua puastsuaj tas.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

18Dân thánh của Ngài được xứ nầy làm kỷ vật chưa bao lâu; mà kẻ thù chúng tôi đã giày đạp nơi thánh của Ngài.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

18Dân thánh của Ngài mới sở hữu xứ nầy chưa bao lâu,Mà kẻ thù chúng con đã giày đạp nơi thánh của Ngài.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

18Dân thánh của Ngài chiếm ngụ nơi nầy chưa được bao lâu,Thì kẻ thù của chúng con đã đến giày đạp nơi thánh của Ngài.

Bản Dịch Mới (NVB)

18Dân thánh Ngài sở hữu nơi nàyTrong ít lâu nhưng kẻ thù Ngài đã giầy đạp nơi thánh Ngài.

Bản Phổ Thông (BPT)

18Dân Ngài có được đất đai trong một thời gian,rồi bây giờ kẻ thù đến chà đạp nơi thánh Ngài.

Vajtswv Txojlus (HWB)

19Koj ua rau peb ib yam li koj yeej tsis tau kav peb dua, thiab ib yam li peb tsis yog koj haivneeg li ntag.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

19Từ lâu nay chúng tôi đã như một dân không hề được Ngài cai trị, và không còn đội danh Ngài nữa.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

19Đã từ lâu, chúng con như một dân không hề được Ngài cai trị,Và không còn được gọi bằng danh Ngài nữa.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

19Chúng con đã trở thành như thời xa xưa ấy,Thời chúng con chưa được Ngài nhận lấy để trị vì,Thời chúng con chưa được mang lấy danh Ngài.

Bản Dịch Mới (NVB)

19Đã từ lâu chúng tôi trở thành Như một dân không do Ngài cai trị Và không mang danh Ngài.

Bản Phổ Thông (BPT)

19Chúng tôi trở thành như dân chưa hề được Ngài cai trị,như những kẻ chưa hề mang danh Ngài.