So Sánh Bản Dịch(Tối đa 6 bản dịch)


Nau Brah Ndu Ngơi(BBSV)

Bản Truyền Thống 1926(VI1934)

Bản Hiệu Đính Truyền Thống(RVV11)

Bản Dịch 2011(BD2011)

Bản Dịch Mới(NVB)

Bản Phổ Thông(BPT)

Nau Brah Ndu Ngơi (BBSV)

1Aơ, ti Yêhôva mâu jêng gleh ôh dĭng păng mâu dơi tâm rklaih, tôr păng mâu lĕ sêt lơi dĭng păng mâu dơi tăng.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

1Nầy, tay Đức Giê-hô-va chẳng trở nên ngắn mà không cứu được; tai Ngài cũng chẳng nặng nề mà không nghe được đâu.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

1Nầy, tay Đức Giê-hô-va chẳng phải ngắn mà không cứu được;Tai Ngài cũng chẳng phải nặng mà không nghe được đâu.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

1Nầy, tay CHÚA không phải quá ngắn mà không cứu được;Tai Ngài cũng không phải quá nặng mà không nghe được,

Bản Dịch Mới (NVB)

1Nầy, chẳng phải tay của CHÚA quá ngắn để cứu Và tai của Ngài quá nặng để nghe đâu!

Bản Phổ Thông (BPT)

1Quyền năng CHÚA đủ giải cứu ngươi. Ngài có thể nghe ngươi khi ngươi kêu cầu.

Nau Brah Ndu Ngơi (BBSV)

2Ƀiă lah nau kue khân may yơh tâm nkhah khân may đah Brah Ndu khân may. Nau tih khân may yơh pôn lơi muh măt păng bơh khân may dĭng păng mâu tăng ôh.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

2Nhưng ấy là sự gian ác các ngươi làm xa cách mình với Đức Chúa Trời; và tội lỗi các ngươi đã che khuất mặt Ngài khỏi các ngươi, đến nỗi Ngài không nghe các ngươi nữa.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

2Nhưng chính vì sự gian ác của các ngươiĐã phân cách các ngươi với Đức Chúa Trời mình,Và tội lỗi các ngươi đã che khuất Ngài khỏi các ngươiĐến nỗi Ngài không nghe các ngươi nữa.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

2Nhưng ấy là vì tội lỗi của các ngươi đã làm cách biệt các ngươi với Ðức Chúa Trời;Những tội lỗi của các ngươi đã làm Ngài lánh mặt, để Ngài không nghe các ngươi nữa;

Bản Dịch Mới (NVB)

2Nhưng vì sự gian ác các ngươi đã ngăn cách Các ngươi với Đức Chúa Trời mình; Và tội lỗi các ngươi đã làm Ngài ẩn mặt Không nghe các ngươi.

Bản Phổ Thông (BPT)

2Nhưng chính điều ác ngươi phân cách ngươi khỏi Thượng Đế mình. Tội lỗi ngươi khiến Ngài quay mặt khỏi ngươi, để không nghe ngươi nữa.

Nau Brah Ndu Ngơi (BBSV)

3Yor lah ti khân may ƀơ̆ jêh ma mham, jêh ri nglao ti khân may ma nau kue; mbung khân may ngơi nau mƀruh, mpiăt khân may ngơi nau ƀai.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

3Vì tay các ngươi đã ô uế bởi máu, ngón tay các ngươi đã ô uế bởi tội ác; môi các ngươi nói dối, lưỡi các ngươi lằm bằm sự xấu xa.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

3Vì bàn tay các ngươi đã bị ô uế do vấy máu,Ngón tay các ngươi bị ô uế vì tội ác,Môi miệng các ngươi nói lời dối trá,Lưỡi các ngươi thì thầm việc xấu xa.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

3Bởi bàn tay các ngươi đã ô nhơ vì nhuốm máu;Ngón tay các ngươi đã vấy đầy tội ác;Môi các ngươi nói dối;Lưỡi các ngươi thốt ra điều gian tà.

Bản Dịch Mới (NVB)

3Bởi vì bàn tay các ngươi đã bị ô uế trong máu; Ngón tay các ngươi bị ô uế vì gian ác; Môi miệng các ngươi đã nói lời dối trá; Lưỡi các ngươi đã thì thầm điều độc địa.

Bản Phổ Thông (BPT)

3Tay ngươi đã giết kẻ khác, ngón tay ngươi đã làm bậy. Môi miệng ngươi nói dối, và lưỡi ngươi nói điều ác.

Nau Brah Ndu Ngơi (BBSV)

4Mâu geh du huê phong ma nau sŏng ôh. Khân păng rnơm ma nau ngơi dơm dam jêh ri ngơi mƀruh. Khân păng mĭn ma nau mhĭk jêh ri ƀư nau kue.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

4Trong các ngươi chẳng có ai lấy lẽ công bình mà kêu rêu; chẳng có ai lấy điều chân thật mà đối nại. Hết thảy đều cậy sự hư không, nói lời dối trá, cưu mang điều ác và đẻ ra tội trọng.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

4Không ai lấy lẽ công chính mà kiện cáo;Chẳng ai lấy điều chân thật mà tranh tụng.Người ta tin cậy vào điều hư không và lời dối trá,Họ cưu mang điều ác và đẻ ra tội trọng.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

4Chẳng ai muốn thưa kiện để đòi công lý,Cũng không ai xét xử để tìm ra sự thật.Chúng tin cậy vào những lời hứa suông;Chúng nói với nhau những lời giả dối;Lòng chúng cưu mang điều ác và sinh ra tội lỗi.

Bản Dịch Mới (NVB)

4Không ai kiện cáo theo lẽ công chính; Cũng không ai tranh tụng trong sự chân thật. Người ta tin cậy vào điều hư không và lời gian dối; Cưu mang điều tai hại và đẻ ra điều gian ác.

Bản Phổ Thông (BPT)

4Người nầy thưa kiện người khác một cách bất công, không ai nói thật khi trình bày phần mình. Ai nấy đặt điều tố cáo nhau bằng lời giả dối. Chúng gây chuyện và tạo ra thêm điều ác.

Nau Brah Ndu Ngơi (BBSV)

5Khân păng gŭ păn tăp bêh ŭnh, jêh ri khân păng tanh ek ndrŭng. Mbu nâm sa play khân păng khĭt yơh, jêh ri tơ lah bu n chah lơi du mlâm, du mlâm bêh rmâng lah.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

5Họ ấp trứng hổ mang và dệt màng nhện; ai ăn những trứng đó sẽ chết, và nếu một cái trứng giập ra, sẽ nở thành rắn lục.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

5Họ ấp trứng rắnVà dệt màng nhện;Ai ăn trứng đó sẽ chết,Và một cái trứng bị vỡ sẽ nở ra rắn độc.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

5Chúng ấp trứng rắn độc;Chúng giăng mạng nhện;Ai ăn nhằm trứng của chúng ắt sẽ chết ngay;Nếu trứng ấy nở ra sẽ đích thị là một con rắn độc.

Bản Dịch Mới (NVB)

5Chúng ấp trứng rắn, Dệt màng nhện. Ai ăn trứng của chúng sẽ chết; Còn trứng bị bể sẽ nở ra rắn độc.

Bản Phổ Thông (BPT)

5Chúng ấp điều ác như ấp trứng rắn độc. Ai ăn nhằm một trong các trứng đó sẽ chết, còn nếu ai đập trứng đó thì một con rắn độc sẽ chui ra.Chúng nói dối như thể dệt mạng nhện.

Nau Brah Ndu Ngơi (BBSV)

6Ék ndrŭng khân păng mâu mra jêng bok ao ôh; mâu lĕ khân păng dơi nkŭm ma kan khân păng nơm. Kan khân păng jêng kan nau kue, jêh ri kan ti khân păng ƀư jêng nau ƀai.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

6Những màng họ không dùng làm áo được, không thể mặc được hàng họ đã dệt ra; công việc họ là công việc đáng tội, tay họ làm những việc hung tàn.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

6Màng của họ không dùng làm áo được,Không thể mặc được hàng mà họ đã dệt ra;Công việc của họ là công việc gian ác,Đôi tay họ đầy những việc hung tàn.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

6Tơ sợi của mạng nhện sẽ không biến thành quần áo;Những việc chúng làm cũng không thể che thân;Vì các công việc của chúng đều là các việc tội lỗi;Những việc bạo tàn ở trong tay chúng quá nhiều.

Bản Dịch Mới (NVB)

6Màng chúng dệt không thể làm áo mặc; Chúng không thể che thân bằng đồ chúng làm ra. Công việc của chúng là công việc gian ác; Hành động trong tay chúng là bạo lực.

Bản Phổ Thông (BPT)

6Mạng nhện chúng nó dệt không thể dùng may áo quần; không thể dùng mạng đó để che thân được.Những việc chúng làm là ác, chúng dùng tay mình để hại người khác.

Nau Brah Ndu Ngơi (BBSV)

7Jâng khân păng nchuăt ŭch ƀư nau mhĭk, jêh ri khân păng ngăch ƀư pling mham mâu tih ôh. Nau mĭn khân păng jêng kue, nau ƀư roh jêh ri nau ƀư rai gŭ ta trong khân păng.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

7Chân họ chạy đến điều ác, nôn nả làm đổ máu vô tội; tư tưởng họ là tư tưởng gian tà, sự phá hại diệt vong là ở trên đường lối họ.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

7Chân họ chạy đến điều ác,Họ vội vã làm đổ máu vô tội;Tư tưởng họ là tư tưởng gian tà,Sự tàn phá và hủy diệt ở trên đường lối họ.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

7Chân chúng nhanh nhẹn chạy theo điều ác;Chúng lẹ làng làm đổ máu vô tội;Suy nghĩ của chúng đều là những ý nghĩ gian tà;Ðường chúng đi để lại toàn hủy phá và điêu linh.

Bản Dịch Mới (NVB)

7Chân chúng chạy đến điều ác Và nhanh nhẹn làm đổ máu người vô tội. Tư tưởng của chúng là tư tưởng gian ác; Chúng đem lại tàn phá và đổ nát trên đường chúng đi.

Bản Phổ Thông (BPT)

7Chúng hăng hái chạy làm điều ác, và sẵn sàng giết hại người vô tội. Chúng chỉ tơ tưởng điều ác. Nơi nào chúng đặt chân đến cũng gây hư hại và hủy phá.

Nau Brah Ndu Ngơi (BBSV)

8Khân păng mâu gĭt năl trong nau đăp mpăn ôh, jêh ri mâu geh nau sŏng ôh tâm trong khân păng. Khân păng ăn trong khân păng jêng kue, mbu nâm hăn ta nây mâu gĭt nau đăp mpăn ôh.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

8Họ không biết đường bình an, trong đường họ đi không có sự công nghĩa. Họ tự làm những lối quanh quẹo: ai đi trong đó thì chẳng biết sự bình an!

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

8Họ chẳng bao giờ biết con đường bình an,Không có sự chính trực trong đường lối họ.Họ tự làm quanh quẹo các lối của mình,Ai bước đi trong đó thì chẳng biết đến sự bình an!

Bản Dịch 2011 (BD2011)

8Ðường đem lại bình an thịnh vượng chúng không hề biết đến;Ðường chúng đi không có dáng công lý nơi nào;Chúng đã tạo cho mình những con đường lươn lẹo cong queo;Ai chọn đi các đường ấy sẽ không biết bình an thịnh vượng.

Bản Dịch Mới (NVB)

8Chúng không biết con đường bình an, Cũng không có công bình nơi đường lối của chúng. Chúng tự làm đường lối mình cong quẹo, Ai đi trên đường ấy không biết được bình an.

Bản Phổ Thông (BPT)

8Chúng không biết sống hòa bình là gì, trong đời chúng không biết làm điều phải. Chúng bất lương. Những ai sống như chúng sẽ không bao giờ có hòa bình.

Nau Brah Ndu Ngơi (BBSV)

9Yor nây nau sŏng gŭ ngai đah hên, jêh ri nau sŏng srăng mâu dơi ban hên ôh. Hên joi nau ang, ƀiă lah aơ, nau ngo tât; hên joi nau rmah, ƀiă lah hên hăn tâm nau ngo.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

9Vậy nên sự công bình đã cách xa chúng ta, sự nhân nghĩa cũng không theo kịp chúng ta. Chúng ta trông mong sự sáng, mà sự tối tăm đây nầy, trông mong sự sáng láng, mà đi trong u ám.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

9Vì thế, công lý đã cách xa chúng ta,Lẽ công chính cũng không bắt kịp chúng ta.Chúng ta trông mong ánh sáng mà chỉ thấy bóng tối,Trông mong sự chói sáng mà bước đi trong tối tăm.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

9Vì thế công lý đã xa cách chúng con;Lẽ công chính không đến gần chúng con;Chúng con cầu mong ánh sáng, nhưng nầy đây, chỉ có tối tăm!Chúng con tìm ánh sáng rạng ngời, nhưng lại đi trong bóng tối mịt mùng!

Bản Dịch Mới (NVB)

9Cho nên sự công bình xa cách chúng ta; Và lẽ công chính cũng không đến gần chúng ta được. Chúng ta trông mong ánh sáng thì đây này, bóng tối! Chúng ta trông mong sáng lạng thì lại bước đi trong u tối.

Bản Phổ Thông (BPT)

9Lẽ phải cách xa chúng; sự công chính đã biến mất.Chúng ta chờ đợi ánh sáng nhưng chỉ thấy bóng tối.Chúng ta mong ánh sáng chói lọi nhưng chỉ thấy mù mịt.

Nau Brah Ndu Ngơi (BBSV)

10Hên joi rvơ mpir, tâm ban ma bunuyh chieh măt, hên joi rvơ tâm ban ma phung mâu geh măt ôh. Hên chêh dôl ang nar nklang bôk tâm ban ma suâr vâr păr vik; ta nklang phung geh nau ngăch prăl, hên jêng tâm ban ma phung khĭt.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

10Chúng ta đi dọc theo tường như người mù; rờ rẫm như người không có mắt; đúng trưa mà vấp chân như chạng vạng; giữa những kẻ mạnh mẽ mà mình như người chết.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

10Chúng ta mò mẫm dọc theo tường như người mù,Mò mẫm như người không có mắt;Giữa trưa mà vấp chân như chạng vạng;Giữa những kẻ mạnh mẽ mà mình như người chết.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

10Chúng con mò mẫm mon men theo bức tường như một người mù;Chúng con quờ quạng bước đi như thể không có mắt;Giữa trưa nắng mà chúng con vấp ngã như bước đi khi trời chạng vạng;Giữa những người đang năng động mà chúng con như kẻ đã chết rồi.

Bản Dịch Mới (NVB)

10Chúng ta mò mẫm men theo tường như người mù, Như người không có mắt, chúng ta dò dẫm. Ban ngày giữa trưa mà chúng ta vấp ngã như vào lúc chạng vạng; Giữa những người mạnh khỏe mà chúng ta như người chết.

Bản Phổ Thông (BPT)

10Chúng ta như người mù lần mò theo vách tường,dò dẫm như không có mắt.Giữa ánh nắng ban ngàymà chúng ta vấp ngã như thể ban đêm,như người chết giữa những kẻ mạnh khoẻ,

Nau Brah Ndu Ngơi (BBSV)

11Lĕ rngôch phung hên ngrông tâm ban ma kau, hên nđêng rngot tâm ban ma plŭk. Hên joi nau sŏng, ƀiă lah mâu geh ôh; hên joi nau tâm rklaih, ƀiă lah păng gŭ ngai đah hên.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

11Chúng ta cứ rên siết như con gấu, và rầm rì như chim bồ câu; trông sự công bình, mà nó không đến, đợi sự cứu rỗi, mà nó cách xa!

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

11Chúng ta rên xiết như con gấu gầm gừ,Và rên rỉ như tiếng gù của chim bồ câu;Chúng ta trông đợi công lý mà nó không đến,Trông đợi sự cứu thoát mà nó cách xa!

Bản Dịch 2011 (BD2011)

11Tất cả chúng con cứ gầm gừ như đàn gấu,Cứ rên rỉ thê lương chẳng khác gì các bồ câu;Chúng con mong công lý, nhưng không hề thấy;Chúng con mong ơn cứu rỗi, nhưng điều ấy quá xa vời.

Bản Dịch Mới (NVB)

11Tất cả chúng ta gầm gừ như gấu, Than thở não nề như chim bồ câu. Chúng ta trông lẽ công bình nhưng không có; Mong sự cứu rỗi nhưng nó xa cách chúng ta.

Bản Phổ Thông (BPT)

11Chúng ta gầm gừ như gấu,gù gù than vãn như bồ câu.Chúng ta tìm công lý nhưng chẳng thấy đâu,mong được cứu nhưng sự cứu rỗi lánh xa.

Nau Brah Ndu Ngơi (BBSV)

12Yor lah nau hên rlau nau vay jêng bĭk ta năp may, jêh ri nau tih hên mbơh tâm rdâng đah hên. Nau hên rlau nau vay tâm mpơl jêh, jêh ri hên gĭt năl nau kue hên:

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

12Phải, sự phạm phép chúng tôi đã thêm nhiều trước mặt Ngài, tội lỗi chúng tôi làm chứng nghịch cùng chúng tôi. Vì sự phạm phép chúng tôi ở cùng chúng tôi, và chúng tôi biết sự gian ác mình.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

12“Vì trước mặt Chúa, sự vi phạm của chúng con thật nhiều,Tội lỗi chúng con làm chứng nghịch cùng chúng con.Vì sự vi phạm của chúng con vẫn ở với chúng conVà chúng con nhận biết sự gian ác mình.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

12Vì những vi phạm của chúng con đã quá nhiều trước mặt Ngài;Các tội lỗi của chúng con đã làm chứng nghịch lại chúng con,Vì các vi phạm của chúng con hằng ở với chúng con,Chúng con biết rõ các tội lỗi của chúng con:

Bản Dịch Mới (NVB)

12Vì sự vi phạm của chúng tôi trước mặt Ngài thật nhiều; Tội lỗi chúng tôi làm chứng nghịch chúng tôi. Vì sự vi phạm của chúng tôi vẫn ở cùng chúng tôi Và chúng tôi biết sự gian ác mình.

Bản Phổ Thông (BPT)

12Chúng ta đã phạm nhiều lỗi lầm đối với Thượng Đế;tội lỗi chúng ta chứng tỏ chúng ta sai quấy.Chúng ta biết mình đã nghịch lại Thượng Đế;chúng ta biết những việc ác mình làm:

Nau Brah Ndu Ngơi (BBSV)

13Rlau nau vay, dun Yêhôva, plơ̆ sĭt mâu tĭng ndô̆ ôh Brah Ndu hên, ngơi ma nau tŭn jot jêh ri nau tâm rdâng, mĭn jêh ri hă ngơi nau mƀruh bơh nuih n'hâm.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

13Chúng tôi đã bạn nghịch, chối Đức Giê-hô-va, và trở lòng chẳng theo Đức Chúa Trời mình. Chúng tôi nói sự bạo ngược và phản loạn, cưu mang những lời giả dối trong lòng và nói ra!

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

13Chúng con đã phản loạn và chối bỏ Đức Giê-hô-va,Quay lưng không theo Đức Chúa Trời mình.Chúng con nói điều bạo ngược và phản loạn,Thốt ra những lời dối trá đã cưu mang trong lòng.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

13Chúng con đã dấy nghịch và chối bỏ CHÚA;Chúng con đã lìa bỏ Ðức Chúa Trời của chúng con;Chúng con cứ bẻ cong sự thật để nói điều phản nghịch và dấy loạn chống lại Ngài;Chúng con bịa ra trong lòng, rồi nói ra những lời dối trá.

Bản Dịch Mới (NVB)

13Chúng tôi đã vi phạm, đã phản bội CHÚAVà quay lưng không theo Đức Chúa Trời mình. Chúng tôi đã nói lời bạo ngược và phản loạn; Cưu mang những lời gian dối trong lòng rồi thốt ra.

Bản Phổ Thông (BPT)

13tức phạm tội và gạt bỏ CHÚA,quay khỏi Thượng Đế mình,âm mưu hại người khác và bất vâng phục Thượng Đế,âm mưu và nói dối.

Nau Brah Ndu Ngơi (BBSV)

14Nau sŏng rŭch du jêh, jêh ri nau sŏng srăng gŭ ngai; yor lah nau na nê̆ prah jêh tâm trong sâng, jêh ri nau sŏng srăng mâu dơi lăp ôh.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

14Cho nên sự công bình trở lui lại, sự nhân nghĩa đứng xa; vì lẽ thật vấp ngã giữa đường phố, và sự ngay thẳng chẳng được vào.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

14Vì thế, công lý bị đẩy lui,Sự công chính đứng cách xa;Vì chân lý vấp ngã giữa quảng trường,Và sự ngay thẳng không thể vào được.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

14Công lý bị đẩy lui;Công chính đứng đằng xa;Sự thật bị ngã nhào ngoài đường;Công bình không được bước vào.

Bản Dịch Mới (NVB)

14Lẽ công bình bị đẩy lui; Sự công chính thì đứng xa; Vì lẽ thật bị vấp ngã nơi quảng trường Và sự ngay thẳng không thể vào.

Bản Phổ Thông (BPT)

14Cho nên chúng ta đã xua đuổi công lý,không cho lẽ phải đến gần.Nơi phố chợ không thấy nói đến sự thật;điều thanh liêm không được phép đặt chân vào thành.

Nau Brah Ndu Ngơi (BBSV)

15Hên pưt nau na nê̆, jêh ri mbu nâm dơi đah nau mhĭk njêng păng nơm jêng ndơ bu pit. Yêhôva saơ nau nây, jêh ri nau nây ƀư rngot păng yor mâu geh nau sŏng ôh.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

15Lẽ thật đã không còn, ai lánh điều dữ thì phải cướp bắt. Đức Giê-hô-va thấy không có sự công bình thì chẳng đẹp lòng,

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

15Chân lý đã không còn,Ai lánh điều dữ thì bị cướp giật.”
Đức Giê-hô-va đã thấy rằngDưới mắt Ngài, tất cả đều gian ác, bất công.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

15Vì sự thật không còn, nên ai lìa bỏ thói gian tà là tự biến thành con mồi.CHÚA thấy điều ấy, và Ngài rất phật lòng, Bởi công lý chẳng còn nữa.

Bản Dịch Mới (NVB)

15Lẽ thật không còn nữa Và kẻ lánh xa điều ác thì bị cướp giật. CHÚA nhìn thấy và Ngài buồn lòngVì không có sự công bình.

Bản Phổ Thông (BPT)

15Không ai thấy chân lý đâu cả,và ai không chịu làm điều ác thì bị tấn công.CHÚA nhìn và không thấy công lý đâu,nên Ngài rất bất bình.

Nau Brah Ndu Ngơi (BBSV)

16Păng saơ mâu geh du huê bunuyh ôh, păng hih rhâl yor mâu geh nơm kơl koh dŏng an. Rnôk nây ma ti păng nơm păng ƀư tât nau tâm rklaih, jêh ri nau sŏng srăng păng nơm rdâng păng.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

16thấy không có người, chẳng ai cầu thay, thì lấy làm lạ lùng. Ngài bèn dùng chính cánh tay mình đem sự cứu rỗi đến; lấy sự công bình mình mà nâng đỡ.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

16Ngài thấy không có người công chính nào cả,Và ngạc nhiên vì không ai khẩn cầu.Ngài dùng chính cánh tay mình đem sự cứu rỗi đến;Với sự công chính của Ngài hỗ trợ.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

16Ngài lại thấy chẳng có ai phản đối;Ngài lấy làm lạ vì không ai cất tiếng cầu thay.Vì vậy Ngài phải tự tay giải quyết cho Ngài,Ngài dùng đức công chính của Ngài duy trì công lý của Ngài.

Bản Dịch Mới (NVB)

16Ngài thấy không có ai cả; Và kinh ngạc vì không ai cầu khẩn Nên Ngài dùng cánh tay mình để cứu rỗi; Và sự công chính của Ngài hỗ trợ mình.

Bản Phổ Thông (BPT)

16Ngài không tìm được ai để giúp dân chúng,và hết sức sửng sốt vì không thấy ai giúp đỡ.Nên Ngài dùng quyền năng mình để giải cứu dân chúng;sự công chính của Ngài ban thêm sức cho Ngài.

Nau Brah Ndu Ngơi (BBSV)

17Păng soh nau sŏng srăng tâm ban ma du blah ao loih, jêh ri păng ndô đon nau tâm rklaih păng soh nau har plơng bôk jêng bok aơ, jêh ri păng nkŭm păng nơm ma nau ŭch ngăn jêng du blah ao mbâl.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

17Ngài mặc sự công bình làm giáp, đội sự cứu rỗi trên đầu làm mão trụ; lấy sự báo thù làm áo mà bận, lấy sự sốt sắng làm áo tơi mà choàng mình.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

17Ngài mặc áo giáp bằng đức công chính,Đội mão cứu rỗi trên đầu;Mặc áo bằng sự báo thù,Khoác trên mình áo choàng của lòng sốt sắng.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

17Ngài lấy đức công chính mang vào làm áo giáp,Lấy ơn cứu rỗi đội trên đầu làm mão an toàn,Lấy sự báo trả mặc vào làm quần áo,Lấy lòng nhiệt thành khoác bên ngoài làm áo choàng.

Bản Dịch Mới (NVB)

17Ngài mặc sự công chính như áo giáp Và đội mão cứu rỗi trên đầu. Ngài mặc áo báo trả làm y phục Và choàng quanh mình bằng áo choàng nhiệt thành.

Bản Phổ Thông (BPT)

17Ngài dùng sự công chính bảo vệ mình như áo giáp.Ngài đội mũ sắt cứu rỗi trên đầu.Mặc áo quần của sự trừng phạtvà quấn mình trong chiếc áo của tình yêu sâu đậm của Ngài.

Nau Brah Ndu Ngơi (BBSV)

18Păng mra mplơ̆ ma ăp nơm tĭng nâm kan păng, nau ji nuih ma phung rdâng đah păng, nau nkhôm mhĭk ma phung rlăng păng. Păng mra mplơ̆ nau tâm ban ma lĕ rngôch bri kô dak mƀŭt.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

18Ngài báo trả cho người ta tùy việc họ làm: sự thạnh nộ cho kẻ đối địch Ngài, sự báo oán cho kẻ thù nghịch; Ngài sẽ báo trả các cù lao.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

18Ngài báo trả cho mỗi người tùy việc họ làm:Sự thịnh nộ cho kẻ đối địch với Ngài, và sự báo oán cho các kẻ thù;Ngài sẽ báo trả các hải đảo.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

18Ngài cứ dựa theo các công việc của chúng mà báo trả,Mà trút thịnh nộ trên những kẻ chống nghịch Ngài;Ngài báo trả những kẻ thù nghịch Ngài;Ngay cả những kẻ sống ở hải ngoại xa xăm cũng sẽ nhận sự báo trả đầy đủ.

Bản Dịch Mới (NVB)

18Ngài sẽ báo trả Tùy công việc chúng làm, Thịnh nộ cho kẻ chống đối, Báo oán cho kẻ thù nghịch; Ngài sẽ báo trả dân các hải đảo.

Bản Phổ Thông (BPT)

18CHÚA sẽ báo trả kẻ thù Ngài về những điều chúng làm.Tỏ cơn thịnh nộ Ngài đối với những kẻ chống nghịch;trừng phạt những dân cư ở xa cho đáng tội chúng.

Nau Brah Ndu Ngơi (BBSV)

19Pô ri khân păng mra klach ma amoh Yêhôva ntơm bơh pa dâng, jêh ri yơk ma nau chrêk rmah păng bơh ntŭk nar luh; yor lah păng mra văch tâm ban ma n'hor dak jru, Sial Yêhôva khôm mpruh.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

19Người ta sẽ kính sợ danh Đức Giê-hô-va từ phương tây, và sự vinh hiển Ngài từ phương mặt trời mọc lên; vì Ngài sẽ đến như sông tràn dẫy bởi hơi Đức Giê-hô-va thổi giục.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

19Từ phương tây, người ta kính sợ danh Đức Giê-hô-va,Từ phương đông, họ tôn kính vinh quang Ngài;Vì Ngài sẽ đến như dòng sông chảy xiết,Bởi hơi thở Đức Giê-hô-va đùa nó đi.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

19Vì thế ở phương tây danh của CHÚA sẽ được người ta kính sợ;Ở phương đông vinh hiển của Ngài sẽ rực rỡ rạng ngời,Vì Ngài sẽ ập đến như nước lụt bất thần tràn tới,Do Thần của CHÚA điều động ùa vào.

Bản Dịch Mới (NVB)

19Từ phương tây người ta sẽ kính sợ danh CHÚA; Những người từ phương đông sẽ kính sợ sự vinh quang Ngài. Vì Ngài sẽ đến như sông chảy cuồn cuộn Và hơi thở của CHÚA thúc đẩy nó.

Bản Phổ Thông (BPT)

19Rồi dân từ phương Tây sẽ kinh hãi CHÚA,và dân phương Đông sẽ tôn trọng vinh hiển Ngài.CHÚA sẽ đến mau chóng như sông chảy cuồn cuộn,được đưa đẩy bằng hơi thở của CHÚA.

Nau Brah Ndu Ngơi (BBSV)

20"Jêh ri Nơm Tâm Chuai mra văch ma ƀon Siôn ma phung tâm ngih Yakôb, plơ̆ du bơh nau tih." Yêhôva lah.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

20Đấng Cứu chuộc sẽ đến Si-ôn, đến cùng những kẻ thuộc về Gia-cốp, là kẻ bỏ tội lỗi, Đức Giê-hô-va phán vậy.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

20“Đấng Cứu Chuộc sẽ đến Si-ôn,Đến cùng những người thuộc về Gia-cốp đã từ bỏ tội lỗi,”

Bản Dịch 2011 (BD2011)

20“Ðấng Cứu Chuộc sẽ đến với Si-ôn,Và đến với những ai trong nhà Gia-cốp lìa bỏ tội lỗi mình,” CHÚA phán.

Bản Dịch Mới (NVB)

20“Đấng Cứu Chuộc sẽ đến Si-ôn; Đến cùng những người thuộc nhà Gia-cốp đã từ bỏ tội lỗi,”

Bản Phổ Thông (BPT)

20“Rồi một Đấng Cứu Rỗi sẽ đến Xi-ônđể cứu dân Gia-cốp là những kẻ đã quay khỏi tội lỗi,”CHÚA phán vậy.

Nau Brah Ndu Ngơi (BBSV)

21Bi gâp be, aơ jêng nau gâp tâm rnglăp đah khân păng, Yêhôva lah: "Brah Huêng Ueh gâp nơm gŭ ta kalơ khân may, jêh ri nau gâp ngơi gâp dơm jêh tâm trôm mbung khân may, nđâp ma tă bơh trôm mbung phung kon khân may, mâu lĕ luh tă bơh trôm mbung phung sau khân may, ntơm bơh aƀaơ tât ta n'ho ro." Yêhôva lah.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

21Đức Giê-hô-va phán: Về phần ta, nầy là giao ước ta đã lập với họ. Thần ta ở trên ngươi, cả đến những lời ta đã đặt nơi miệng ngươi, sẽ chẳng lìa khỏi miệng ngươi, miệng dòng dõi ngươi, và miệng dòng dõi của dòng dõi ngươi, từ bây giờ cho đến đời đời! Đức Giê-hô-va phán vậy.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

21Đức Giê-hô-va phán: “Về phần Ta, đây là giao ước Ta lập với họ: ‘Thần Ta ở trên các con, và những lời Ta đã đặt nơi miệng các con sẽ không rời khỏi miệng các con, miệng của dòng dõi các con, và miệng dòng dõi của dòng dõi các con, từ nay cho đến đời đời!’” Đức Giê-hô-va phán vậy.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

21CHÚA phán, “Về phần Ta, đây là giao ước giữa Ta với chúng: Thần Ta ngự trên ngươi.Những lời Ta đã đặt trong miệng ngươi sẽ không rời khỏi miệng ngươi, hay rời khỏi miệng của con cháu ngươi, hay rời khỏi miệng của con cháu của con cháu ngươi từ nay cho đến đời đời,” CHÚA phán.

Bản Dịch Mới (NVB)

21CHÚA phán: “Về phần Ta, đây là giao ước của Ta với chúng: Thần Ta ở trên ngươi và những lời Ta đặt trong miệng ngươi sẽ không rời khỏi miệng ngươi, cũng như miệng con cái và cháu chắt ngươi từ nay cho đến đời đời.” CHÚA phán như vậy.

Bản Phổ Thông (BPT)

21CHÚA phán, “Đây là giao ước của ta đối với dân nầy: Thần linh và lời phán của ta ban cho các ngươi sẽ không bao giờ rời bỏ ngươi, con cái và dòng dõi ngươi.”