So Sánh Bản Dịch(Tối đa 6 bản dịch)


Vajtswv Txojlus(HWB)

Bản Truyền Thống 1926(VI1934)

Bản Hiệu Đính Truyền Thống(RVV11)

Bản Dịch 2011(BD2011)

Bản Dịch Mới(NVB)

Bản Phổ Thông(BPT)

Vajtswv Txojlus (HWB)

1Tus TSWV hais tias,“Nej cov uas nrhiav txojkev ncaj nceesthiab xav nrhiav tus TSWV, nej cia li mloog kuv hais.Cia li saib lub pobzeb uas nej muab txaug thiab qhov chawuas nej khawb pobzeb.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

1Các ngươi là kẻ theo sự công bình, là kẻ tìm Đức Giê-hô-va, hãy nghe ta! Khá nhìn xem vầng đá mà các ngươi đã được đục ra, và cái lỗ của hang mà các ngươi đã được đào lên!

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

1“Hỡi những người đeo đuổi sự công chính,Là người tìm kiếm Đức Giê-hô-va, hãy nghe Ta!Hãy nhìn xem vầng đá mà từ đó các ngươi được đục ra,Và hầm đá mà từ đó các ngươi được đào lên!

Bản Dịch 2011 (BD2011)

1“Hỡi những ai đuổi theo lẽ công chính,Tức những người tìm kiếm CHÚA,Hãy lắng nghe Ta: Hãy nhìn vào vầng đá các ngươi được đục ra,Vào hầm đá các ngươi được lấy ra.

Bản Dịch Mới (NVB)

1“Hỡi những người theo đuổi sự công chính, Những người tìm kiếm CHÚA, hãy nghe Ta. Hãy nhìn xem vầng đá mà các ngươi đã được đẽo ra, Và mỏ đá mà các ngươi đã được đào lên.

Bản Phổ Thông (BPT)

1CHÚA phán, “Hãy nghe ta, hỡi các ngươi là những kẻ muốn sống phải lẽ và đi theo CHÚA. Hãy nhìn tảng đá mà ngươi được đục ra. Hãy nhìn hầm đá mà ngươi được đào lên.

Vajtswv Txojlus (HWB)

2Cia li saib nej yawgkoob Anplahas,thiab nej pogkoob Xalas,tus uas yug nej cov uas ua xeebntxwv;thaum kuv hu Anplahas, nws tsismuaj ib tug menyuam li,tiamsis kuv foom koob hmoov raunws thiab pub rau nws muaj menyuam;kuv pub rau nws muaj xeebntxwv coob suav tsis txheeb li.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

2Hãy nghĩ đến tổ ngươi là Áp-ra-ham, cùng Sa-ra, là người đã sanh sản các ngươi; ta đã gọi Áp-ra-ham khi người chỉ có một mình; ta đã ban phước cho người nên nhiều.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

2Hãy nhìn xem tổ phụ các ngươi là Áp-ra-hamVà Sa-ra, là người đã sinh ra các ngươi;Ta đã gọi Áp-ra-ham khi người chỉ có một mình,Nhưng Ta đã ban phước cho người,Và làm cho người trở nên đông đảo.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

2Hãy nhìn vào Áp-ra-ham tổ phụ các ngươi,Vào Sa-ra tổ mẫu các ngươi,Vì Ta chỉ kêu gọi một mình nó,Rồi Ta ban phước cho nó,Và làm cho nó gia tăng đông đúc.”

Bản Dịch Mới (NVB)

2Hãy nhìn xem Áp-ra-ham, tổ phụ các ngươi Và Sa-ra, người sinh sản các ngươi. Khi Ta kêu gọi, người chỉ có một mình Nhưng Ta đã ban phước và làm cho người trở nên nhiều.

Bản Phổ Thông (BPT)

2Hãy nhìn Áp-ra-ham, tổ tiên ngươi, và Sa-ra, người sinh ra tổ tiên ngươi. Khi ta gọi người thì Áp-ra-ham chưa có con, nhưng ta ban phước cho người và ban cho dòng dõi người đông đảo.

Vajtswv Txojlus (HWB)

3“Tus TSWV yuav nplig cov neeghauv lub nroog Yeluxalees,thiab cov neeg nyob hauv lub nrooguas raug puastsuaj tas lawm siab,thiab yuav muab lub nroog Yeluxaleestej nras mojsab ua kom zoo li lub Vaj Edees.Yeluxalees tej tiaj suabpuam yuavzoo li tus TSWV lub vaj;yuav muaj kev zoo siab thiab kev kajsiab nyob hauv Yeluxalees,yuav muaj lub suab hu nkauj qhuaskuv thiab ua kuv tsaug.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

3Vì Đức Giê-hô-va đã yên ủi Si-ôn; Ngài đã yên ủi mọi nơi đổ nát của nó. Ngài đã khiến đồng vắng nên như vườn Ê-đen, nơi sa mạc nên như vườn Đức Giê-hô-va; giữa vườn ấy sẽ có sự vui vẻ, mừng rỡ, tạ ơn, và tiếng ca hát.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

3Vì Đức Giê-hô-va an ủi Si-ôn;Ngài an ủi mọi nơi đổ nát của nó.Ngài khiến hoang mạc trở nên vườn Ê-đen,Đồng hoang trở nên vườn của Đức Giê-hô-va;Giữa vườn ấy sẽ có sự vui vẻ, mừng rỡ,Lời tạ ơn và tiếng hát ca.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

3Thật vậy CHÚA sẽ an ủi Si-ôn;Ngài sẽ an ủi những nơi hoang tàn của nó;Ngài sẽ biến đồng hoang của nó trở nên như Ê-đen,Làm sa mạc của nó trở thành như vườn của CHÚA;Những nơi ấy sẽ tràn đầy hân hoan và vui vẻ,Lòng biết ơn và tiếng hát lời ca.

Bản Dịch Mới (NVB)

3Vì CHÚA sẽ an ủi Si-ôn, An ủi tất cả những nơi hoang tàn của nó. Ngài sẽ làm cho đồng hoang của nó như vườn Ê-đen, Sa mạc như vườn của CHÚA. Tại nơi ấy người ta sẽ tìm thấy hân hoan, vui mừng, Lời cảm tạ và tiếng hát.

Bản Phổ Thông (BPT)

3Nên CHÚA sẽ an ủi Xi-ôn; Ngài sẽ tỏ lòng từ bi cho những kẻ sống trong đống đổ nát của nó. Ngài sẽ biến sa mạc nó ra vườn Ê-đen; Khiến đất hoang vu nó thành vườn của CHÚA. Mọi người sống nơi đó sẽ vui mừng; Họ sẽ cảm tạ và hát xướng.

Vajtswv Txojlus (HWB)

4“Kuv haivneeg, nej cia li mloog kuv hais,thiab nej cia li tig pobntseg mloog kuv tej lus;kuv txoj kevcai thiab txojkev ncaj nceesyuav ua lub teeb ci rau txhua haivneeg pom kev.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

4Hỡi dân ta, hãy chăm chỉ mà nghe ta; hỡi nước ta, hãy lắng tai cho ta! Vì sẽ có luật pháp ra từ ta, và ta sẽ lập sự công bình làm sự sáng cho các dân.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

4Hỡi dân Ta, hãy chú ý nghe Ta;Hỡi nước Ta, hãy lắng nghe Ta!Vì luật pháp sẽ ra từ Ta,Và công lý của Ta sẽ là ánh sáng cho muôn dân.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

4“Hỡi dân Ta, hãy nghe Ta,Hỡi nước Ta, hãy chăm chú nghe Ta: Vì luật pháp sẽ do Ta ban bố;Ta sẽ làm công lý của Ta thành ánh sáng cho muôn dân.

Bản Dịch Mới (NVB)

4Hỡi dân Ta, hãy nghe Ta, Hỡi nước Ta, hãy lắng tai nghe Ta Vì Kinh Luật sẽ ra từ Ta Và sự công bình của Ta sẽ là ánh sáng cho các dân.

Bản Phổ Thông (BPT)

4Hỡi dân ta, hãy nghe ta;hỡi dân tộc ta, hãy để ý lời ta nói.Ta sẽ ban lời giáo huấn cho dân ta,và những quyết định của ta sẽ như ánh sáng cho các dân.

Vajtswv Txojlus (HWB)

5Kuv yuav los cawm lawv sai sai ntag;kuv txojkev cawm dim twb los lawm,thiab kuv txhais npab yuav kav txhua haivneeg.Cov tebchaws uas nyob deb tos nrhw kuv,thiab cia siab ntsoov rau kuv txhaisnpab uas yuav cawm lawv dim.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

5Sự công bình của ta đã gần; sự cứu rỗi của ta đã ra, cánh tay ta sẽ xét đoán các dân. Các cù lao sẽ trông đợi ta, và chúng nó sẽ nhờ cậy cánh tay ta.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

5Sự công chính của Ta đã gần kề,Ơn cứu rỗi của Ta sắp hiện ra,Cánh tay của Ta sẽ cai trị các dân.Các hải đảo sẽ trông đợi Ta,Và chúng hi vọng nơi cánh tay Ta.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

5Lẽ công chính của Ta đã gần;Ơn cứu rỗi của Ta đã khởi sự;Tay Ta sẽ xử đoán muôn dân;Dân các xứ ở hải ngoại trông cậy vào Ta;Chúng tin cậy nơi tay Ta.

Bản Dịch Mới (NVB)

5Sự công chính của Ta sẽ nhanh chóng đến gần, Sự cứu rỗi của Ta xuất hiện, Cánh tay Ta sẽ cai trị các dân. Các hải đảo trông đợi Ta Và chúng hy vọng nơi cánh tay Ta.

Bản Phổ Thông (BPT)

5Ta sẽ sớm chứng tỏ điều ta làm là đúng.Ta sẽ sớm giải cứu ngươi.Ta sẽ dùng quyền năng và phân xử các dân.Tất cả những nơi xa xôi đang chờ đợi ta;Họ chờ đợi quyền năng ta giúp họ.

Vajtswv Txojlus (HWB)

6Nej cia li tsa qhovmuag saib saumnruab ntug,thiab saib rau hauv ntiajteb, vim lubntuj yuav yaj ntshis ib yam li tej pa taws;lub ntiajteb yuav ntuag tas ib yam litej qub ris tsho,thiab tej neeg uas nyob hauv ntiajtebyuav tuag tas ib yam li tej yoov.Tiamsis kuv txojkev cawm dim yuav nyob mus ibtxhis,thiab kuv txojkev ncaj ncees yuavnyob mus tsis paub kawg li.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

6Hãy ngước mắt lên các từng trời, và cúi xem dưới đất; vì các từng trời sẽ tan ra như khói, đất sẽ cũ như áo, dân cư trên đất sẽ chết như ruồi: nhưng sự cứu rỗi của ta còn đời đời, sự công bình của ta chẳng hề bị bỏ đi.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

6Hãy ngước mắt lên các tầng trời,Và cúi nhìn dưới đất;Vì các tầng trời sẽ tan ra như khói,Đất sẽ cũ mòn như chiếc áo,Cư dân trên đất sẽ chết như ruồi.Nhưng sự cứu rỗi của Ta còn đời đời,Sự công chính của Ta không bao giờ chấm dứt.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

6Hãy ngước mắt lên trời,Rồi cúi nhìn xuống đất;Vì trời sẽ biến đi như làn khói,Ðất sẽ cũ nát như áo quần,Và những kẻ sống trên nó sẽ chết đi như vậy,Nhưng ơn cứu rỗi của Ta sẽ còn đến đời đời,Lẽ công chính của Ta sẽ không bao giờ bị hủy bỏ.

Bản Dịch Mới (NVB)

6Hãy ngước mắt lên các tầng trời Và nhìn xem quả đất phía dưới. Vì các tầng trời sẽ tan đi như khói Và đất sẽ cũ mòn như chiếc áo; Những người sống trên đất cũng sẽ chết như vậy.Nhưng sự cứu rỗi Ta sẽ còn đời đời Và sự công chính của Ta sẽ không chấm dứt.

Bản Phổ Thông (BPT)

6Hãy nhìn lên trời.Hãy nhìn quanh các ngươi và dưới đất thấp nầy.Bầu trời sẽ biến mất như mây khói.Đất sẽ trở thành vô dụng như chiếc áo cũ,và dân chúng trên đất sẽ chết như ruồi.Nhưng sự cứu rỗi ta còn đời đời,và lòng nhân từ ta không bao giờ dứt.

Vajtswv Txojlus (HWB)

7“Nej cov uas paub txojkev ncajncees, nej cia li mloog kuv hais;cov neeg uas khaws kuv txoj kevcai rau nruab siab,nej tsis txhob ntshai thaum neegthuam thiab saib tsis taus nej;

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

7Hỡi dân biết điều công nghĩa, ghi luật pháp ta trong lòng, hãy nghe ta! Chớ e người ta chê bai, đừng sợ họ nhiếc móc.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

7Hỡi những người hiểu biết công lý, hãy nghe Ta!Các ngươi là những người ghi khắc luật pháp Ta trong lòng;Đừng sợ người ta đả kích,Cũng đừng kinh hãi vì những lời sỉ vả của họ.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

7Hãy lắng nghe Ta,Hỡi những kẻ hiểu biết lẽ công chính,Hỡi những người giữ lòng vâng theo luật pháp Ta:Ðừng lo sợ khi bị người ta chê trách;Ðừng hãi kinh khi nhục mạ đến với mình;

Bản Dịch Mới (NVB)

7Hỡi những người biết sự công chính, Dân có Kinh Luật của Ta trong lòng, hãy nghe Ta. Đừng sợ người ta trách móc, Chớ hoảng hốt vì chúng sỉ vả các ngươi.

Bản Phổ Thông (BPT)

7Các ngươi là kẻ biết lẽ phải hãy nghe ta;Các ngươi là kẻ nghe theo lời giáo huấn ta hãy nghe ta nói.Đừng sợ những điều ác kẻ khác nói,và đừng bực dọc về lời sỉ nhục của chúng.

Vajtswv Txojlus (HWB)

8vim ntsaum kabrwg yuav noj lawv ibyam li noj tej qub ris tsho,thiab kas yuav noj lawv ib yam li nojtej tawv yaj;tiamsis kuv txojkev ncaj ncees yuavnyob mus ibtxhis,thiab kuv txojkev cawm dim yuavmuaj rau txhua tiam neeg.”

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

8Vì sâu sẽ cắn nuốt họ như cắn áo, mọt sẽ ăn họ như ăn lông chiên; nhưng sự công bình của ta sẽ còn mãi, sự cứu rỗi của ta còn đến muôn đời.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

8Vì mối sẽ cắn nuốt họ như cắn áo,Mọt sẽ ăn họ như ăn lông chiên.Nhưng sự công chính của Ta sẽ còn mãi mãi,Ơn cứu rỗi của Ta còn từ đời nầy sang đời kia.”

Bản Dịch 2011 (BD2011)

8Vì chúng sẽ bị mối mọt ăn như đã ăn mất tiêu quần áo,Và bị giòi bọ ăn như đã ăn sạch áo da lông,Nhưng lẽ công chính của Ta sẽ còn mãi mãi,Ơn cứu rỗi của Ta sẽ còn từ đời nọ đến đời kia.”

Bản Dịch Mới (NVB)

8Vì sâu sẽ cắn họ như cắn áo, Mọt sẽ gặm chúng như gặm len. Nhưng sự công chính của Ta sẽ còn lại mãi mãi Và sự cứu rỗi Ta còn đến muôn đời.”

Bản Phổ Thông (BPT)

8Mối mọt sẽ ăn nuốt chúng như áo quần,và dòi bọ sẽ tiêu nuốt chúng như lông chiên.Nhưng lòng nhân từ ta sẽ còn đời đời,và sự cứu rỗi ta sẽ kéo dài mãi mãi từ nay về sau.”

Vajtswv Txojlus (HWB)

9Tus TSWV, sawv los pab peb lauj!Siv koj lub hwjchim cawm peb ibyam li koj tau ua los lawm.Tsis yog koj twb muab Lahaj txiav ua tej thooj,thiab muab tus zaj hauv hiavtxwvtsuav tu tas lawm los?

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

9Hỡi cánh tay Đức Giê-hô-va, hãy thức dậy, thức dậy! Hãy mặc lấy sức mạnh đi! Hãy thức dậy như ngày xưa, như các đời thượng cổ! Há chẳng phải Ngài là Đấng đã phân thây Ra-háp và đâm con quái vật lớn sao?

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

9Hỡi cánh tay Đức Giê-hô-vaHãy thức dậy, hãy thức dậy mặc lấy sức mạnh!Hãy thức dậy như ngày xưa,Như các thời cổ đại!Chẳng phải chính Ngài đã phanh thây Ra-háp,Đã đâm quái vật biển đó sao?

Bản Dịch 2011 (BD2011)

9Ôi lạy CHÚA, xin Ngài thức dậy,Xin thức dậy và vung cánh tay mạnh mẽ quyền năng,Xin thức dậy như thời xa xưa ấy,Như những ngày của các thế hệ trước kia,Há chẳng phải Ngài đã phân thây thủy quái ra từng mảnh?Há chẳng phải Ngài đã đập nát con thủy long hay sao?

Bản Dịch Mới (NVB)

9Hỡi cánh tay CHÚA, hãy thức dậy, Thức dậy để mặc lấy năng lực. Hãy thức dậy như ngày xưa, Như các thời cổ đại. Chẳng phải Ngài là Đấng sẽ chặt Ra-háp ra từng mảnh, Đã đâm quái vật đó sao?

Bản Phổ Thông (BPT)

9Lạy CHÚA quyền năng, hãy thức dậy, thức dậy,và vận dụng sức mạnh Ngài.Hãy thức dậy như Ngài đã làm xưa kia,như Ngài đã thực hành thuở trước.Ngài dùng quyền năng chặt Ra-háp ra từng miếngvà giết con quái vật dưới biển.

Vajtswv Txojlus (HWB)

10Twb yog koj ua rau dej hiavtxwv nqhuab,thiab ua kev qhuav qhawv hauv dej mus rau sab tim ub,kom cov neeg uas koj twb cawm dimlawm mus dhau dej rau sab tid.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

10Há chẳng phải Ngài là Đấng đã làm cạn biển, tắt nước vực lớn, làm cho biển sâu ra một con đường, hầu cho dân đã được chuộc đi qua sao?

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

10Chẳng phải chính Ngài đã làm cạn biển,Tắt các nguồn nước của vực lớn;Làm một con đường dưới biển sâuĐể dân được cứu chuộc đi qua đó sao?

Bản Dịch 2011 (BD2011)

10Há chẳng phải Ngài đã làm biển kia khô cạn,Nơi nước đầy trong các vực thẳm mênh mông?Há chẳng phải Ngài đã làm một con đường dưới đáy biển,Ðể những người được chuộc của Ngài có lối đi qua sao?

Bản Dịch Mới (NVB)

10Chẳng phải Ngài là Đấng làm cho biển và nước vực sâu khô cạn sao? Ngài đã làm vực thẳm của biển cả Thành con đường Cho những người được cứu chuộc đi qua.

Bản Phổ Thông (BPT)

10Ngài làm cho biển khô cạnvà rút nước ra khỏi đại dương sâu thẳm.Ngài biến nơi thẳm sâu của biển ra đường cáicho dân chúng băng qua và được giải cứu.

Vajtswv Txojlus (HWB)

11Cov neeg uas koj twb cawm dim lawm,yuav rov qab los thiab hu nkaujzoo siab hauv lub nroog Yeluxalees,lawv yuav muaj kev zoo siab thiabkaj siab lug mus ibtxhis;kev txomnyem quaj ntsuag thiab kevtu siab yuav tsis raug lawv lawm.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

11Dân mà Đức Giê-hô-va đã chuộc sẽ trở về, sẽ hát mà đến Si-ôn. Sự hỉ lạc vô cùng sẽ đội trên đầu họ, họ sẽ được vui vẻ mừng rỡ; sự buồn bực than vãn sẽ tránh đi.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

11Dân mà Đức Giê-hô-va đã chuộc sẽ trở về,Họ sẽ đến Si-ôn trong tiếng hò reo.Niềm vui bất tận sẽ đội trên đầu họ,Họ sẽ được vui vẻ mừng rỡ;Còn sự buồn bã than vãn sẽ biến mất.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

11Rồi những người được cứu chuộc của Ngài sẽ trở về;Họ sẽ đến Si-ôn với lời ca tiếng hát;Ðầu ngẩng lên, mặt cứ mãi vui mừng;Họ sẽ hân hoan và vui vẻ,Nỗi u buồn và sầu thảm sẽ trốn xa.

Bản Dịch Mới (NVB)

11Những người được chuộc của CHÚA sẽ trở về Và ca hát đi vào Si-ôn. Sự vui mừng đời đời ở trên đầu họ. Họ sẽ được hân hoan, vui mừng. Buồn rầu, than vãn sẽ tránh xa.

Bản Phổ Thông (BPT)

11Dân chúng mà CHÚA đã giải thoát sẽ trở vềvà hớn hở đi vào Xi-ôn.Sự hân hoan của họ sẽ còn mãi mãi.Họ sẽ hớn hở vui mừng,Còn mọi điều sầu não đau buồn chỉ là chuyện xa xưa.

Vajtswv Txojlus (HWB)

12Tus TSWV hais tias,“Kuv yog tus txhawb nej lub zog,vim li cas nej yuav ntshai cov neeg uas txawj tuaguas twb tsis muaj sia nyob ntev npaum li tej nyom?

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

12Ta, chính ta, là Đấng yên ủi các ngươi. Ngươi là ai, mà sợ loài người hay chết, sợ con trai loài người là kẻ sẽ trở nên như cỏ?

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

12“Ta, chính Ta là Đấng an ủi các ngươi.Ngươi là ai mà sợ loài người là loài hay chết,Sợ con cái loài người là kẻ sẽ trở nên như cỏ?

Bản Dịch 2011 (BD2011)

12“Ta, chính Ta, Ðấng an ủi các ngươi;Ngươi có biết mình là ai chăng,Mà lại sợ loài người là những kẻ sẽ sớm chết,Và sợ con của loài người là những kẻ mong manh như cỏ dại ngoài đồng?

Bản Dịch Mới (NVB)

12“Ta, chính Ta là Đấng an ủi các ngươi. Ngươi là ai mà sợ loài người hay chết? Hay sợ con cái loài người được sinh ra như cỏ?

Bản Phổ Thông (BPT)

12CHÚA phán, “Ta là Đấng an ủi ngươi.Thế thì tại sao ngươi sợ loài người là loài sẽ chết?Tại sao ngươi e ngại con người là loài sẽ biến mất như cỏ?

Vajtswv Txojlus (HWB)

13Nej tsis nco qab tus TSWV uastsim nej,tus uas nthuav lub ntuj thiab pua lubntiajteb lawm los?Vim li cas nej ua neej nyob ntshai rwg cov neeguas tsimtxom nej thiab xav kom nej puastsuaj?Lawv tej kev nruj tsiv yeej ua tsis tauli cas rau nej.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

13mà lại quên Đức Giê-hô-va, Đấng tạo ngươi, đã giương các từng trời và lập nền đất, và trọn ngày cứ run sợ về cơn giận của kẻ ức hiếp khi nó toan hủy diệt ngươi? Vậy thì bây giờ chớ nào cơn giận của kẻ ức hiếp ấy ở đâu?

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

13Ngươi lại quên Đức Giê-hô-va, Đấng đã tạo nên ngươi,Đã giương các tầng trờiVà đặt nền móng quả đất,Để suốt ngày ngươi cứ run sợVì cơn giận của kẻ áp bức,Khi nó định hủy diệt ngươi sao?Nhưng bây giờ, cơn giận của kẻ áp bức ấy ở đâu?

Bản Dịch 2011 (BD2011)

13Chẳng lẽ ngươi đã quên CHÚA,Ðấng Dựng Nên ngươi,Ðấng căng các tầng trời,Ðấng đặt nền trái đất,Nên ngày nào ngươi cũng nơm nớp lo sợ cơn giận của kẻ áp bức ngươi, kẻ đang toan mưu tiêu diệt ngươi, như thế?Nhưng cơn giận của kẻ áp bức ngươi đâu rồi?

Bản Dịch Mới (NVB)

13Ngươi đã quên CHÚA, Đấng tạo ra ngươi. Ngài đã giương các tầng trời, Lập nền quả đất Nhưng suốt ngày ngươi cứ sợ Cơn giận dữ của kẻ áp bức Khi nó định hủy diệt. Nhưng cơn giận dữ của kẻ áp bức ở đâu?

Bản Phổ Thông (BPT)

13Ngươi đã quên CHÚA là Đấng tạo ra ngươi,Đấng đã trải bầu trời ra và làm nên trái đất.Sao ngươi mãi lo sợ những kẻ nổi giận quấy rối ngươivà muốn hủy diệt ngươi?Bây giờ chúng nó đâu rồi?

Vajtswv Txojlus (HWB)

14Tshuav tsis ntev, kuv yuav tso covneeg raug txim dim los;lawv yuav tsis tuag thiab tsis taumus rau hauv lub qhov ntxa,thiab lawv yuav tsis tu ncua zaub mov noj li lawm.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

14Kẻ bị bắt đem đi sẽ chóng được tha ra; sẽ chẳng chết trong hầm, và cũng không thiếu lương thực.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

14Kẻ bị bắt đem đi sẽ nhanh chóng được thả ra;Sẽ không chết trong ngục tối,Và cũng không thiếu lương thực.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

14Những kẻ bị bắt đi lưu đày sẽ sớm được giải thoát,Ðể chúng sẽ không chết trong hầm hố giam cầm,Và sẽ không thiếu thức ăn thức uống.

Bản Dịch Mới (NVB)

14Kẻ tù đày sẽ chóng được giải cứu, Sẽ không chết nơi ngục tối Cũng không thiếu lương thực.

Bản Phổ Thông (BPT)

14Những kẻ bị cầm tù sẽ được trả tự do;họ sẽ không chết trong ngục, và sẽ đủ ăn.

Vajtswv Txojlus (HWB)

15“Kuv uas yog tus TSWV tus uas yognej tus Vajtswv,kuv yog tus do hiavtxwv kom ntasnphau tej niag nthwv thiab nrov nroo ntws.Kuv lub npe hu ua tus TSWV tusuas muaj hwjchim loj kawg nkaus!

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

15Vì ta là Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi, tức là Đấng làm cho biển động, sóng bổ ầm ầm. Đức Giê-hô-va vạn quân là danh Ngài.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

15Vì Ta là Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi,Là Đấng làm cho biển động, và sóng vỗ ầm ầm.Danh Ta là Đức Giê-hô-va vạn quân.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

15Ta là CHÚA, Ðức Chúa Trời của ngươi,Ðấng khiến cho biển động sóng gào;Danh Ngài là CHÚA các đạo quân.

Bản Dịch Mới (NVB)

15Vì chính Ta là CHÚA, Đức Chúa Trời ngươi, Đấng làm biển động và sóng gầm thét. CHÚA Vạn Quân là danh Ngài.

Bản Phổ Thông (BPT)

15Ta là CHÚA, Thượng Đế ngươi,Đấng quấy động biển cả và làm nổi sóng cồn.Danh ta là CHÚA Toàn Năng.

Vajtswv Txojlus (HWB)

16Kuv muab kuv tej lus qhia cob raunej thiab kuv txhais tes tiv thaiv nej,kuv nthuav lub ntuj thiab pua lub ntiajteb,kuv hais rau cov neeg hauv lub nroog Yeluxalees hais tias,‘Nej yog kuv haivneeg.’ ”

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

16Ta đã để lời nói ta trong miệng ngươi, và cho ngươi núp dưới bóng bàn tay ta, đặng dựng các từng trời và lập nền đất, cùng nói với Si-ôn rằng: Ngươi là dân ta!

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

16Ta đã đặt lời Ta trong miệng ngươi,Và cho ngươi núp dưới bóng bàn tay Ta,Trong khi dựng các tầng trời,Đặt nên móng quả đất,Và nói với Si-ôn rằng: ‘Ngươi là dân Ta.’”

Bản Dịch 2011 (BD2011)

16Ta đã đặt lời Ta trong miệng ngươi;Ta đã dùng bàn tay Ta bao phủ ngươi,Ðể Ta dựng nên các từng trời,Ðặt các nền trái đất,Và nói với Si-ôn rằng, ‘Ngươi là dân Ta.’”

Bản Dịch Mới (NVB)

16Ta đã đặt lời Ta trong miệng ngươi, Giấu ngươi dưới bóng bàn tay Ta; Giương các tầng trời, Lập nền quả đất Và phán với Si-ôn rằng: ‘Ngươi là dân Ta.’ ”

Bản Phổ Thông (BPT)

16Ta sẽ đặt lời vào miệng ngươi. Ta sẽ lấy bàn tay ta che phủ ngươi. Ta đã tạo nên trời đất, và sẽ bảo Xi-ôn rằng, ‘Ngươi là dân ta.’”

Vajtswv Txojlus (HWB)

17Yeluxalees, sawv los mas!Koj cia li sawv tsees los!Koj twb haus tus TSWV lub khob uas yog txojkevtxiav txim lawm,lub khob ntawd yog nws txojkevchim uas ua rau koj ntog pujpoog.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

17Hỡi Giê-ru-sa-lem, hãy thức dậy, thức dậy, và đứng lên! Ngươi đã uống chén thạnh nộ từ tay Đức Giê-hô-va; đã uống cạn chén xoàng ba, uống cho tới cặn.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

17Hỡi Giê-ru-sa-lem,Hãy thức dậy, thức dậy và đứng lên!Ngươi đã uống chén thịnh nộTừ tay Đức Giê-hô-va,Đã uống cạnChén làm cho loạng choạng.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

17Hãy thức dậy! Hãy thức dậy!Hỡi Giê-ru-sa-lem, hãy trỗi dậy!Ngươi đã uống cạn chén từ tay CHÚA,Ðó là chén thịnh nộ của Ngài;Ngươi đã uống tới cặn của chén làm say choáng váng,Ngươi đã uống cạn chén ấy rồi.

Bản Dịch Mới (NVB)

17Hãy thức dậy, thức dậy, Hởi Giê-ru-sa-lem, hãy đứng lên. Ngươi là người đã uống say Chén thịnh nộ từ tay CHÚA. Ngươi đã uống say tới cặn của chén, Là chén làm cho ngả nghiêng.

Bản Phổ Thông (BPT)

17Hỡi Giê-ru-sa-lem, hãy thức dậy, thức dậy!CHÚA đã nổi giận cùng ngươi;Sự trừng phạt ngươi như rượu trong cốc.CHÚA đã khiến ngươi uống rượu đó;Ngươi đã uống cạn chén cho đến khi say sưa.

Vajtswv Txojlus (HWB)

18Cov menyuam uas koj yug tsis muajib tug coj koj kev,cov menyuam uas koj tu hlob tsismuaj ib tug los tuav koj tes.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

18Trong vòng các con trai mà Giê-ru-sa-lem đã sanh ra, chẳng một đứa nào để dắt nó; trong vòng các con trai nó đã nuôi, chẳng một đứa nào đến cầm lấy tay.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

18Trong số các con trai mà Giê-ru-sa-lem đã sinh ra,Không một đứa nào dắt nó;Trong số các con trai mà nó đã nuôi,Chẳng một đứa nào đến cầm lấy tay nó.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

18Trong số các con cái nó sinh ra,Chẳng có đứa nào dẫn nó đi;Trong số các con cái nó dưỡng nuôi,Không có đứa nào cầm tay nó dắt đi.

Bản Dịch Mới (NVB)

18Trong vòng tất cả con cái mà Giê-ru-sa-lem đã sinh ra, Không đứa nào hướng dẫn nó. Trong số tất cả con cái mà Giê-ru-sa-lem đã nuôi dưỡng, Không đứa nào cầm tay dắt nó.

Bản Phổ Thông (BPT)

18Giê-ru-sa-lem có đông dân cư, nhưng không có ai lãnh đạo họ. Trong số những kẻ lớn lên tại đó, chẳng có người nào hướng dẫn họ.

Vajtswv Txojlus (HWB)

19Yuav muaj ob yam kev puastsuajlos raug nej;nej lub tebchaws yuav muaj kev tsovkev rog kom piamsij tas,nej haivneeg yuav tuag tas rau kev tshaib kev nqhisthiab hniav ntaj hniav riam.Yuav tsis muaj leejtwg tuaj nplig nej siab.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

19Hai sự nầy, tức là diệt vong và hủy phá, đói kém và gươm dao, đã đến cho ngươi, mà ai là kẻ sầu não vì ngươi? Ta sẽ lấy gì yên ủi ngươi?

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

19Hai tai họa nầy đã xảy đến cho ngươi,Tức là tàn phá và hủy diệt, đói kém và gươm đao;Ai là người cảm thương ngươi?Ta sẽ lấy gì an ủi ngươi?

Bản Dịch 2011 (BD2011)

19Hai tai họa gấp đôi nầy đã đến với ngươi,Nhưng có ai thương hại ngươi chăng?Hoang tàn và hủy diệt,Nạn đói và gươm đao.Ta dùng ai để an ủi ngươi đây?

Bản Dịch Mới (NVB)

19Hai điều này đã đổ xuống trên ngươi, Ai sẽ chia buồn với ngươi? Sự tan nát và hủy hoại, đói kém và gươm giáo, Ai sẽ an ủi ngươi?

Bản Phổ Thông (BPT)

19Những khốn khó đến với ngươi từng cặp, nhưng không ai tội nghiệp ngươi.Ngươi gặp tàn hại, đại nạn, đói kém và giặc giã nhưng không người nào có thể an ủi ngươi hết.

Vajtswv Txojlus (HWB)

20Nej cov menyuam yuav tsaug muag;lawv pw pawglug ntawm tej kev,lawv zoo ib yam li tus muaslwj uasmag tus neeg tua nqaij lub vas.Lawv raug nej tus Vajtswv tej luschim thiab nws tej lus cem.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

20Các con trai ngươi đều hao mòn, nằm ngổn ngang nơi ngã ba đường phố, như con nai mắc trong lưới, đầy cơn giận của Đức Giê-hô-va và sự quở trách của Đức Chúa Trời ngươi!

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

20Con cái ngươi đều ngất xỉu,Nằm ngổn ngang khắp đường phố,Như sơn dương mắc lưới,Chúng ở dưới cơn giận của Đức Giê-hô-vaVà sự quở trách của Đức Chúa Trời ngươi!

Bản Dịch 2011 (BD2011)

20Con cái ngươi đã kiệt quệ,Nằm la liệt khắp các đầu đường,Giống như con thú hoang sa lưới nằm chờ chết;Chúng ngất ngư vì thấm đòn thịnh nộ của CHÚA,Vì nhận lấy sự quở phạt của Ðức Chúa Trời.

Bản Dịch Mới (NVB)

20Con cái ngươi đã ngất xỉu, Nằm ở khắp các đầu đường Như nai tơ bị mắc trong lưới, Đầy cơn thịnh nộ của CHÚACùng sự quở trách của Đức Chúa Trời ngươi.

Bản Phổ Thông (BPT)

20Dân cư ngươi đã trở nên yếu ớt. Họ té nằm sóng sượt trên mỗi góc đường phố, như thú vật bị mắc vào lưới. Họ lãnh trọn cơn thịnh nộ của CHÚA và đã nghe tiếng gầm thét giận dữ của Thượng Đế.

Vajtswv Txojlus (HWB)

21Nej cov uas raug kev txomnyem hauvlub nroog Yeluxalees,nej ntog pujpoog li qaug cawv,tiamsis tsis yog haus cawv;

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

21Vậy, bây giờ, hỡi ngươi là kẻ khốn nạn, là kẻ say nhưng không vì rượu, hãy nghe điều nầy.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

21Vậy hãy nghe đây, hỡi kẻ khốn khổ,Là kẻ say nhưng không phải vì rượu:

Bản Dịch 2011 (BD2011)

21Vậy bây giờ hãy nghe đây,Hỡi những kẻ bị khốn khổ,Những kẻ bị say nhưng không phải say vì rượu:

Bản Dịch Mới (NVB)

21Vậy, hỡi kẻ khốn cùng, hãy nghe đây, Hỡi người say nhưng không phải do rượu,

Bản Phổ Thông (BPT)

21Cho nên hỡi Giê-ru-sa-lem đáng thương hãy nghe ta, các ngươi là kẻ say nhưng không phải vì rượu.

Vajtswv Txojlus (HWB)

22tus TSWV uas yog nej tus Vajtswv,tus uas tuaj nws haivneeg tog hais tias,“Nej saib, kuv muab lub khob uas yog kuv txojkev chimtshem tawm ntawm nej mus lawm;lub tais uas yog kuv txojkev chim nejtsis tau haus ntxiv lawm.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

22Chúa Giê-hô-va ngươi, Đức Chúa Trời ngươi, là Đấng binh vực dân mình, phán như vầy: Nầy, ta đã lấy lại chén xoàng ba từ tay ngươi, tức là cặn của chén thạnh nộ ta, rày về sau ngươi sẽ không uống nó nữa.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

22Chúa là Đức Giê-hô-va, Đức Chúa Trời ngươi,Là Đấng bênh vực dân Ngài, phán thế nầy:“Kìa, Ta đã lấy lại từ tay ngươi chén làm cho loạng choạng,Là chén của cơn thịnh nộ Ta;Ngươi sẽ không còn uống nó nữa.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

22CHÚA Hằng Hữu của ngươi,Ðức Chúa Trời của ngươi,Ðấng binh vực duyên cớ ngươi, phán thế nầy: “Này, Ta cất khỏi tay ngươi chén làm say choáng váng,Cất bỏ luôn tới cặn chén thịnh nộ của Ta;Ngươi sẽ không phải uống nó nữa.

Bản Dịch Mới (NVB)

22CHÚA, Đức Chúa Trời ngươi phán như vầy: “Ta sẽ bênh vực dân Ta. Nầy, Ta sẽ lấy khỏi tay ngươi Cái chén làm nghiêng ngả. Ngươi sẽ không còn uống thêm chén nào nữa, Là chén thịnh nộ của Ta.

Bản Phổ Thông (BPT)

22Thượng Đế ngươi, Đấng Cao Cả sẽ bảo vệ dân Ngài. CHÚA là Thượng Đế ngươi phán như sau “Ta giao cho ngươi cốc rượu. Ngươi uống nó rồi đi liểng xiểng. Nhưng ta đang lấy cốc thịnh nộ ta ra khỏi ngươi. Ngươi sẽ không bị cơn giận ta trừng phạt nữa.

Vajtswv Txojlus (HWB)

23Kuv yuav muab lub khob ntawd rau tus neeguas tsimtxom nej uas hais rau nej tias,‘Nej cia li pw hauv av ua kev rau peb tsuj;thiab muab nej lub nraubqaum ua kev rau peb taug.’ ”

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

23Ta sẽ để chén ấy trong tay các kẻ hà hiếp ngươi, tức là các kẻ bảo ngươi rằng: Hãy cúi xuống, đặng chúng ta bước ngang qua! Rồi người cong lưng sát đất, như con đường cho người ta qua lại.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

23Ta sẽ đặt chén ấy vào tay kẻ làm khổ ngươi,Là những kẻ bảo ngươi rằng:‘Hãy nằm xuống cho ta bước qua!’Rồi lưng ngươi như nền đất,Như đường đi cho người ta qua lại.”

Bản Dịch 2011 (BD2011)

23Nhưng Ta sẽ trao nó vào tay những kẻ làm khốn khổ ngươi,Những kẻ đã nói với ngươi rằng, ‘Hãy nằm xuống, để chúng ta giẫm trên ngươi mà đi.’Rồi ngươi đã nằm xuống, lấy thân mình làm đất,Làm con đường để chúng giẫm bước lên trên.”

Bản Dịch Mới (NVB)

23Ta sẽ đặt chén ấy trong tay những kẻ hành hạ ngươi, Tức là những người nói với ngươi rằng: Hãy quỳ xuống để ta bước qua Và ngươi đã lấy lưng làm như đất, Như đường đi cho họ đi qua.”

Bản Phổ Thông (BPT)

23Nay ta sẽ trao cốc trừng phạt ấy cho các kẻ đã hành hạ ngươi, những kẻ đã ra lệnh cho ngươi, ‘Hãy cúi xuống để chúng ta bước qua trên ngươi.’ Lưng ngươi như đất để chúng bước qua; như đường đi cho chúng dẫm lên.”