So Sánh Bản Dịch(Tối đa 6 bản dịch)


Vajtswv Txojlus(HWB)

Bản Truyền Thống 1926(VI1934)

Bản Hiệu Đính Truyền Thống(RVV11)

Bản Dịch 2011(BD2011)

Bản Dịch Mới(NVB)

Bản Phổ Thông(BPT)

Vajtswv Txojlus (HWB)

1Thaum Hexekiyas ua vajntxwv kav lub tebchaws Yudas tau kaum plaub xyoos lawm, Xenakhelis uas ua vajntxwv kav lub tebchaws Axilias tau tuaj tua cov Yudas tej nroog uas txhim ntsa loog ruaj khov kho thiab txeeb tau tej nroog ntawd huv tibsi lawm.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

1Năm thứ mười bốn đời vua Ê-xê-chia, thì San-chê-ríp, vua A-si-ri, đến đánh các thành bền vững của Giu-đa và chiếm lấy.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

1Vào năm thứ mười bốn triều vua Ê-xê-chia thì San-chê-ríp, vua A-si-ri, lên đánh và chiếm được tất cả các thành kiên cố của Giu-đa.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

1Trong năm thứ mười bốn của triều đại Vua Hê-xê-ki-a, Sên-na-kê-ríp vua của A-sy-ri kéo quân đến tấn công và chiếm lấy các thành kiên cố của Giu-đa.

Bản Dịch Mới (NVB)

1Vào năm thứ mười bốn đời vua Ê-xê-chia, San-chê-ríp, vua A-si-ri lên đánh tất cả các thành kiên cố của Giu-đa và chiếm lấy.

Bản Phổ Thông (BPT)

1Trong năm thứ mười bốn đời vua Ê-xê-chia thì San-chê-ríp, vua A-xy-ri tấn công và chiếm lấy tất cả các thành kiên cố của Giu-đa.

Vajtswv Txojlus (HWB)

2Cov Axilias tus vajntxwv tso Lasakes uas yog ib tug thawj tubrog coj ib pab tubrog coob coob tawm hauv lub nroog Lakhis tuaj rau hauv lub nroog Yeluxalees thiab nug Vajntxwv Hexekiyas saib puas zeem. Lasakes tuaj sawv rau ntawm ntu kev uas cov neeg mus ua haujlwm raus ntaub ntawm tus kwjdeg uas ntws pem lub pasdej theem saud los.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

2Đoạn, vua A-si-ri sai Ráp-sa-kê với đạo binh lớn từ La-ki đến Giê-ru-sa-lem, nghịch cùng vua Ê-xê-chia; Ráp-sa-kê đứng tại cống ao trên, nơi đường cái ruộng thợ nện.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

2Vua A-si-ri sai Ráp-sa-kê từ La-ki đến Giê-ru-sa-lem với một lực lượng hùng hậu đe dọa vua Ê-xê-chia. Ráp-sa-kê đứng tại cống dẫn nước ao trên, nằm trên đường cái dẫn đến cánh đồng thợ giặt.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

2Vua của A-sy-ri sai Ráp-sa-kê dẫn một đạo quân đông đảo từ La-ki kéo đến Giê-ru-sa-lem vây đánh Hê-xê-ki-a. Ráp-sa-kê đứng ở đầu kênh dẫn nước của Thượng Hồ, chỗ con đường dẫn đến cánh đồng của thợ nện.

Bản Dịch Mới (NVB)

2Vua A-si-ri sai Ráp-sa-kê từ La-ki đem một đạo binh hùng mạnh đến Giê-ru-sa-lem để tấn công vua Ê-xê-chia. Ráp-sa-kê đứng tại cống nước Ao Thượng, nơi con đường đến ruộng thợ nhuộm.

Bản Phổ Thông (BPT)

2Vua A-xy-ri phái viên tư lệnh tác chiến cùng với một đạo quân rất đông từ La-kích đến đánh vua Ê-xê-chia ở Giê-ru-sa-lem. Khi viên tư lệnh đến gần đường dẫn nước từ hồ trên, chỗ đường dân chúng hay giặt đồ thì dừng lại.

Vajtswv Txojlus (HWB)

3Muaj peb tug neeg Yudas uas yog Hexekiyas tus tub Eliyakees uas yog tus saib lub loog, Senpanas uas yog tus teev ntawv thiab Asas tus tub Yau-as uas yog tus ceev tej ntaub ntawv thiaj tawm mus cuag Lasakes.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

3Bấy giờ, Ê-li-a-kim, con trai của Hinh-kia, làm chức cung giám, đi với thơ ký Sép-na, và sử quan Giô-a, con trai của A-sáp, mà đến cùng người.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

3Bấy giờ Ê-li-a-kim, con trai của Hinh-kia, quan quản lý cung điện, cùng với thư ký Sép-na và quan thái sử Giô-a, con trai của A-sáp, đi ra gặp Ráp-sa-kê.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

3Ê-li-a-kim con của Hinh-kia quan tổng quản hoàng cung, Sép-na quan ký lục, và Giô-a con của A-sáp quan quản lý văn khố đi ra tiếp hắn.

Bản Dịch Mới (NVB)

3Bấy giờ, Ê-li-a-kim, con trai Hinh-kia, quan cai quản cung điện; Sép-na, quan ký lục và Giô-a, con trai A-sáp, quan ngự sử đến cùng người.

Bản Phổ Thông (BPT)

3Ê-li-a-kim, Sếp-na, và Giô-ách đi ra gặp ông. Ê-li-a-kim, con Hinh-kia làm quản lý cung vua, Sếp-na là đổng lý văn phòng, và Giô-ách, con A-sáp là bí thư hoàng gia.

Vajtswv Txojlus (HWB)

4Cos Axilias tus thawj tubrog Lasakes hais rau lawv hais tias huabtais xav paub saib Vajntxwv Hexekiyas cia siab rau dabtsi?

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

4Ráp-sa-kê nói với ba người rằng: Hãy tâu cùng vua Ê-xê-chia rằng: Đấng đại vương, tức là vua A-si-ri, phán như vầy: Sự trông cậy mà ngươi nương dựa là gì?

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

4Ráp-sa-kê nói với họ: “Hãy tâu với vua Ê-xê-chia rằng đại đế là vua A-si-ri phán thế nầy: ‘Sự tin tưởng của ngươi dựa vào đâu?

Bản Dịch 2011 (BD2011)

4Bấy giờ Ráp-sa-kê nói với họ, “Hãy về nói với Hê-xê-ki-a rằng, Ðại đế, vua của A-sy-ri, nói thế nầy: Ngươi dựa vào gì mà tự tin như vậy?

Bản Dịch Mới (NVB)

4Ráp-sa-kê nói với họ: “Hãy nói với Ê-xê-chia rằng: ‘Đại Đế, vua A-si-ri phán thế này: Cậy vào đâu mà ngươi tin tưởng như vậy?

Bản Phổ Thông (BPT)

4Viên tư lệnh tác chiến bảo họ, “Hãy nói với Ê-xê-chia như sau:Đại vương A-xy-ri hỏi: Hiện nay ngươi đang tin tưởng vào cái gì?

Vajtswv Txojlus (HWB)

5Koj hais tias, “Koj muaj tswvyim zoo thiab tubrog coob, tiamsis tej lus uas koj hais ntawd tsis muaj qabhau. Koj cia siab rau leejtwg koj thiaj ntxeev siab rau kuv?

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

5Ta nói rằng: mưu và sức ngươi dùng mà giao chiến chỉ là lời vô ích mà thôi! Vậy ngươi cậy ai mà dám làm phản ta?

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

5Ta hỏi ngươi rằng chỉ lời nói suông là có thể thay thế mưu lược và sức mạnh để chiến đấu được sao? Bây giờ, ngươi cậy vào ai mà dám nổi lên chống lại ta?

Bản Dịch 2011 (BD2011)

5Ta nói cho ngươi biết, ngươi tưởng chỉ dùng những lời nói suông mà có thể thay thế mưu lược và sức mạnh của chiến tranh sao? Bây giờ ngươi tin cậy vào ai mà dám phản nghịch ta?

Bản Dịch Mới (NVB)

5Ngươi bảo rằng: Lời nói suông sẽ là chiến lược và lực lượng cho chiến tranh chăng? Giờ đây, ngươi cậy ai mà phản loạn cùng ta?

Bản Phổ Thông (BPT)

5Ngươi bảo mình có kế hoạch tác chiến và sức mạnh để chiến đấu nhưng lời nói ngươi rỗng tuếch. Ngươi hiện trông cậy vào ai để chống lại ta?

Vajtswv Txojlus (HWB)

6Koj cia siab rau cov Iziv tuaj pab koj, tiamsis lawv yuav zoo li muab tus tauj iab los ua pas nrig, nws yuav lov thiab chob koj tes. Falaus uas yog cov Iziv tus vajntxwv zoo li ntawd rau txhua tus uas cia siab rau nws ntag.”

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

6Nầy, ngươi cậy Ê-díp-tô, ngươi lấy cây sậy đã gãy ấy làm gậy, cây mà ai dựa vào thì nó đâm thủng tay. Pha-ra-ôn, vua Ê-díp-tô, đối với kẻ trông cậy mình cũng là thể ấy.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

6Nầy, ngươi dựa vào Ai Cập, là cây gậy bằng sậy đã giập, mà ai dựa vào nó thì bị đâm thủng bàn tay. Pha-ra-ôn, vua Ai Cập, là như vậy đối với tất cả những ai nương cậy ông ấy.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

6Hãy xem, ngươi tin cậy vào Ai-cập, một cây sậy đã gãy; ai dựa vào nó ắt sẽ bị nó đâm lủng tay. Pha-ra-ôn vua của Ai-cập và tất cả những ai tin cậy vào hắn đều như vậy.

Bản Dịch Mới (NVB)

6Nầy, ngươi nương cậy Ai Cập, là cái gậy bằng sậy đã gãy mà hễ ai tựa vào nó sẽ bị đâm lủng tay. Pha-ra-ôn, vua Ai Cập cũng như vậy đối với ai nương cậy người.

Bản Phổ Thông (BPT)

6Nầy, ngươi hiện đang trông cậy Ai-cập để hỗ trợ mình nhưng Ai-cập là cây gậy dập. Ai tựa vào, nó sẽ đâm thủng tay. Vua Ai-cập cũng sẽ làm tổn thương những ai nhờ hắn giúp.

Vajtswv Txojlus (HWB)

7Cov Axilias tus thawj tubrog nam zog mus hais ntxiv tias, “Puas yog nej hais rau kuv tias nej cia siab rau tus TSWV uas yog nej tus Vajtswv? Puas yog Hexekiyas muab tej chaw teev dab saum roob siab thiab tej thaj rhuav puastsuaj tas, nws thiaj hais kom cov Yudas thiab cov Yixalayees mus pehawm Vajtswv rau ntawm tib lub thaj nkaus xwb?

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

7Có lẽ các ngươi bảo ta rằng: Chúng ta cậy Giê-hô-va Đức Chúa Trời chúng ta; nhưng ấy chẳng phải là Đấng mà Ê-xê-chia đã bỏ các nơi cao và các bàn thờ Ngài, khi truyền cho Giu-đa và Giê-ru-sa-lem rằng: Các ngươi khá thờ lạy trước bàn thờ này hay sao?

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

7Có lẽ ngươi nói với ta rằng: “Chúng tôi tin cậy Giê-hô-va Đức Chúa Trời chúng tôi.” Nhưng chẳng phải ấy là Đấng mà Ê-xê-chia đã dẹp bỏ các nơi cao và các bàn thờ Ngài, khi truyền cho Giu-đa và Giê-ru-sa-lem rằng: “Các ngươi hãy thờ lạy trước bàn thờ nầy,” hay sao?

Bản Dịch 2011 (BD2011)

7Nhưng nếu ngươi nói với ta rằng, ‘Chúng tôi tin cậy vào CHÚA, Ðức Chúa Trời của chúng tôi.’ Nhưng đó chẳng phải là Ðấng mà những chỗ tế tự Ngài trên nơi cao và những bàn thờ Ngài đã bị Hê-xê-ki-a dẹp bỏ, rồi hắn bảo Giu-đa và Giê-ru-sa-lem rằng, ‘Các ngươi hãy đến thờ phượng Ngài trước bàn thờ nầy’ hay sao?

Bản Dịch Mới (NVB)

7Còn nếu ngươi bảo ta rằng: “Chúng tôi tin cậy CHÚA, Đức Chúa Trời chúng tôi;” nhưng đó không phải là Đấng mà Ê-xê-chia đã hủy bỏ các nơi cao và các bàn thờ của Ngài rồi truyền cho Giu-đe và Giê-ru-sa-lem rằng: “Hãy thờ lạy trước bàn thờ này sao?”

Bản Phổ Thông (BPT)

7Ngươi có thể tự hào: ‘Chúng ta nhờ cậy vào CHÚA là Thượng Đế của chúng ta,’ nhưng Ê-xê-chia đã tiêu hủy các bàn thờ và các nơi thờ phụng CHÚA. Ê-xê-chia bảo Giu-đa và Giê-ru-sa-lem, ‘Các ngươi chỉ được thờ phụng nơi bàn thờ nầy mà thôi.’

Vajtswv Txojlus (HWB)

8Kuv yuav nrog nej sib coglus ntawm kuv tus tswv uas yog cov Axilias tus huabtais lub npe, kuv yuav muab ob txhiab tus nees rau nej, yog nej nrhiav tau neeg coob los caij cov nees ntawd.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

8Vậy bây giờ, hãy đưa con tin cho chủ ta, là vua A-si-ri. Nếu ngươi tìm được đủ lính kỵ, thì ta sẽ cấp cho hai ngàn con ngựa.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

8Vậy bây giờ, hãy đánh cuộc với chủ ta là vua A-si-ri. Ta sẽ cấp cho ngươi hai nghìn con ngựa, nếu ngươi tìm đủ số kỵ binh để cưỡi!

Bản Dịch 2011 (BD2011)

8Vậy bây giờ ta muốn ngươi đánh cuộc với chủ ta, vua của A-sy-ri: Ta sẽ cho ngươi hai ngàn con ngựa, nếu ngươi tìm đủ số kỵ binh để cỡi chúng.

Bản Dịch Mới (NVB)

8Nào, bây giờ hãy đánh cuộc với chủ ta, vua A-si-ri: Ta sẽ ban cho ngươi hai ngàn con ngựa nếu ngươi đủ sức tìm đủ lính kỵ để cưỡi!

Bản Phổ Thông (BPT)

8Bây giờ hãy lập ước với chủ ta là vua A-xy-ri: Ta sẽ cấp cho ngươi hai ngàn con ngựa nếu ngươi tìm được đủ người cỡi.

Vajtswv Txojlus (HWB)

9Nej twb tsis muaj peevxwm tawmtsam tau kuv tus tswv ib tug nyuag tubrog uas me tshaj plaws no, ua li cas nej lam mus cia siab rau cov Iziv tej tsheb nees thiab cov tubrog caij nees ua dabtsi?

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

9Nhưng tài nào ngươi sẽ đuổi được lấy một quan tướng rất kém trong các tôi tớ chủ ta hay sao? Mà ngươi cậy Ê-díp-tô để tìm xe binh và lính kỵ!

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

9Ngay cả khi ngươi cậy vào Ai Cập để có chiến xa và kỵ binh, liệu ngươi có thể đẩy lui được một tướng kém nhất trong số các thuộc hạ của chủ ta không?

Bản Dịch 2011 (BD2011)

9Thế thì làm sao ngươi có thể đương đầu nổi một tiểu tướng trong số các tôi tớ của chủ ta, cho dù ngươi cậy vào Ai-cập để nhờ các xe chiến mã và các kỵ binh của chúng đi nữa?

Bản Dịch Mới (NVB)

9Thế thì làm sao ngươi đánh đuổi được một tướng rất nhỏ trong số các tôi tớ của chủ ta dù ngươi cậy Ai Cập để có xe chiến mã và lính kỵ?

Bản Phổ Thông (BPT)

9Ngươi không thể thắng nổi một sĩ quan thấp kém nhất của chủ ta thì tại sao ngươi lại nhờ cậy Ai-cập để chúng cấp cho ngươi xe cộ và lính cỡi ngựa?

Vajtswv Txojlus (HWB)

10Nej xav hais tias kuv tuaj tua nej lub tebchaws thiab muab ua kom puastsuaj, tsis muaj tus TSWV pab kuv no los? Twb yog Vajtswv txib kuv tuaj tua thiab rhuav kom nej puastsuaj ntag!”

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

10Vả lại, há không có mạng của Đức Giê-hô-va mà ta lên đánh xứ nầy để diệt nó sao? Đức Giê-hô-va đã phán cùng ta rằng: Hãy lên đánh xứ nầy và diệt đi!

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

10Hơn nữa, chẳng phải là theo lệnh của Đức Giê-hô-va mà ta lên đánh xứ nầy để tiêu diệt nó sao? Đức Giê-hô-va đã phán với ta rằng: Hãy lên đánh xứ nầy và tiêu diệt nó đi!’”

Bản Dịch 2011 (BD2011)

10Há chẳng phải CHÚA đã sai ta đến xứ nầy để hủy diệt nó sao? CHÚA đã bảo ta, ‘Hãy đi lên tiến đánh xứ nầy và hủy diệt nó.’”

Bản Dịch Mới (NVB)

10Vả lại, không phải nhờ CHÚA mà ta lên đánh xứ này và hủy diệt nó sao? CHÚA bảo ta hãy lên đánh và hủy diệt xứ này.’ ”

Bản Phổ Thông (BPT)

10Ta đến tấn công và tiêu hủy xứ nầy là do mệnh lệnh CHÚA. Chính Ngài bảo ta đến tiêu diệt xứ nầy.”

Vajtswv Txojlus (HWB)

11Ces Eliyakees, Senpanas thiab Yau-as hais rau Lasakes hais tias, “Thov hais lus Alamais rau koj cov tubtxib, peb thiaj totaub; tsis txhob hais lus Henplais rau peb, rau qhov tagnrho cov neeg uas sawv saum tus ntsa yeej puavleej mloog koj hais huv tibsi.”

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

11Ê-li-a-kim, cùng Sép-na và Giô-a, bảo Ráp-sa-kê rằng: Xin nói với tôi tớ ông bằng tiếng A-ram, vì chúng tôi hiểu tiếng ấy. Song đừng lấy tiếng Giu-đa nói cùng chúng tôi, cho dân nầy đương ở trên tường thành nó nghe.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

11Ê-li-a-kim cùng Sép-na và Giô-a nói với Ráp-sa-kê: “Xin nói với các đầy tớ ông bằng tiếng A-ram, vì chúng tôi hiểu tiếng ấy. Xin đừng nói với chúng tôi bằng tiếng Giu-đa kẻo dân ở trên tường thành nghe được.”

Bản Dịch 2011 (BD2011)

11Bấy giờ Ê-li-a-kim, Sép-na, và Giô-a nói với Ráp-sa-kê, “Xin ngài vui lòng nói với các tôi tớ ngài bằng tiếng A-ram, vì chúng tôi hiểu tiếng ấy. Xin đừng nói với chúng tôi bằng tiếng Giu-đa trong tầm tai của dân chúng đang ở trên tường thành.”

Bản Dịch Mới (NVB)

11Ê-li-a-kim, Sép-na và Giô-a nói cùng Ráp-sa-kê rằng: “Xin nói với tôi tớ ông bằng tiếng A-ram vì chúng tôi hiểu tiếng ấy. Xin đừng nói với chúng tôi bằng tiếng Giu-đa cho dân trên tường thành này nghe.”

Bản Phổ Thông (BPT)

11Ê-li-a-kim, Sếp-na, và Giô-ách nói cùng viên tư lệnh tác chiến rằng, “Xin nói với chúng tôi bằng tiếng A-ram vì chúng tôi hiểu thứ tiếng đó. Đừng nói bằng tiếng Hê-bơ-rơ vì dân trong thành có thể nghe được.”

Vajtswv Txojlus (HWB)

12Tiamsis Lasakes hais tias, “Nej xav hais tias kuv tus tswv tso kuv tuaj hais cov lus no rau nej tus tswv thiab nej xwb no los? Tsis yog li ntawd, kuv hais rau cov neeg zaum saum tus ntsayeej uas lawv yuav rov noj lawv cov quav thiab haus lawv cov zis kom hnov ib yam li nej thiab.”

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

12Ráp-sa-kê nói: Chủ ta sai ta truyền mấy lời đó, nào những cho chủ ngươi và cho ngươi ư? Há chẳng cũng truyền cho những người ngồi trên tường thành, là kẻ sắp phải cùng với các ngươi ăn phân uống tiểu mình ư?

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

12Nhưng Ráp-sa-kê trả lời: “Có phải chủ ta sai ta truyền mấy lời nầy cho chủ ngươi và cho ngươi thôi sao? Chẳng phải cũng truyền cho những người ngồi trên tường thành kia, là kẻ sắp phải cùng với các ngươi ăn phân, uống nước tiểu mình sao?”

Bản Dịch 2011 (BD2011)

12Nhưng Ráp-sa-kê đáp, “Há chẳng phải chủ ta sai ta đến chỉ để nói với chủ các ngươi và với các ngươi những lời nầy thôi, mà không nói với những người đang ngồi trên tường thành kia, những người sẽ ăn phân và uống nước tiểu với các ngươi sao?”

Bản Dịch Mới (NVB)

12Nhưng Ráp-sa-kê đáp: “Phải chăng chủ ta chỉ sai ta nói những lời này với chủ ngươi và ngươi thôi sao? Không phải cũng nói cho những kẻ ngồi trên tường thành, là kẻ cùng các ngươi sẽ ăn phân, uống nước tiểu mình sao?”

Bản Phổ Thông (BPT)

12Nhưng viên tư lệnh trả lời, “Chủ ta sai ta đến nói những chuyện nầy đâu phải chỉ cho các ngươi và vua các ngươi mà thôi đâu. Ngài sai ta đến để nói với những người đang ngồi trên vách thành là những kẻ sẽ ăn phân và uống nước tiểu mình như các ngươi vậy.”

Vajtswv Txojlus (HWB)

13Ces Lasakes thiaj sawv tsees thiab hais ua lus Henplais nrov nrov hais tias, “Cia li mloog cov Axilias tus huabtais tej lus uas hais rau nej no!

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

13Đoạn, Ráp-sa-kê đứng dậy, dùng tiếng Giu-đa mà nói to lên rằng: Hãy nghe lời phán của đại vương, là vua A-si ri.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

13Thế rồi Ráp-sa-kê đứng dậy, dùng tiếng Giu-đa mà nói to lên rằng: “Hãy nghe lời phán của đại đế là vua A-si-ri!

Bản Dịch 2011 (BD2011)

13Ðoạn Ráp-sa-kê đứng dậy và nói lớn tiếng trong tiếng Giu-đa, “Hãy nghe những lời của Ðại Ðế, vua của A-sy-ri.

Bản Dịch Mới (NVB)

13Thế rồi Ráp-sa-kê đứng dậy, dùng tiếng Giu-đa kêu to lên rằng: “Hãy nghe lời phán của Đại Đế, là vua A-si-ri:

Bản Phổ Thông (BPT)

13Nói xong viên tư lệnh đứng la lớn bằng tiếng Hê-bơ-rơ rằng, “Hãy nghe lời đại vương A-xy-ri bảo,

Vajtswv Txojlus (HWB)

14Huabtais hais tias: ‘Nej tsis txhob cia Hexekiyas ntxias tau nej, vim Hexekiyas yeej cawm tsis tau nej li.’

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

14Vua phán như vầy: Các ngươi chớ để vua Ê-xê-chia lừa dối mình; vì người chẳng có thể cứu các ngươi.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

14Vua phán thế nầy: ‘Đừng để vua Ê-xê-chia lừa dối các ngươi, vì vua ấy không thể giải cứu các ngươi đâu!

Bản Dịch 2011 (BD2011)

14Ðức vua của ta phán, ‘Ðừng để Hê-xê-ki-a lừa gạt các ngươi, vì hắn sẽ không thể giải cứu các ngươi đâu.’

Bản Dịch Mới (NVB)

14Vua phán như vầy: Đừng để Ê-xê-chia lừa gạt các ngươi vì người không đủ sức giải cứu các ngươi.

Bản Phổ Thông (BPT)

14‘Ngài bảo các ngươi không nên để Ê-xê-chia phỉnh gạt mình vì người không thể nào cứu các ngươi được đâu.

Vajtswv Txojlus (HWB)

15Thiab tsis txhob cia Hexekiyas ntxias nej cia siab rau tus TSWV uas pheej hais tias, ‘Tus TSWV yeej yuav cawm tau peb xwb; lub nroog no yuav tsis raug muab cob rau cov Axilias tus huabtais txhais tes ib zaug li.’

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

15Cũng chớ để vua Ê-xê-chia khuyên các ngươi trông cậy Đức Giê-hô-va mà rằng: Đức Giê-hô-va chắc sẽ cứu chúng ta, và thành nầy sẽ chẳng phó vào tay vua A-si-ri đâu!

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

15Cũng đừng để vua Ê-xê-chia khiến các ngươi tin cậy Đức Giê-hô-va khi nói rằng: “Đức Giê-hô-va chắc chắn sẽ giải cứu chúng ta cùng với thành nầy, và sẽ chẳng phó nó vào tay vua A-si-ri đâu!”

Bản Dịch 2011 (BD2011)

15Cũng đừng để Hê-xê-ki-a khiến các ngươi tin cậy vào CHÚA, mà rằng, ‘CHÚA chắc chắn sẽ giải cứu chúng ta. Thành nầy sẽ không bị rơi vào tay vua của A-sy-ri.’

Bản Dịch Mới (NVB)

15Cũng đừng để Ê-xê-chia thuyết phục các ngươi tin cậy vào CHÚA mà nói rằng: ‘Chắc chắn CHÚA sẽ giải cứu chúng ta, Ngài không để thành này lọt vào tay vua A-si-ri đâu!’

Bản Phổ Thông (BPT)

15Đừng để Ê-xê-chia dụ dỗ các ngươi tin tưởng vào CHÚA rằng: CHÚA sẽ giải cứu chúng ta. Thành nầy sẽ không bị trao vào tay vua A-xy-ri.

Vajtswv Txojlus (HWB)

16Tsis txhob mloog Hexekiyas tej lus hlo li! Cov Axilias tus huabtais hais tias, ‘Cia li ua phoojywg rau kuv thiab tawm tuaj cuag kuv. Nej txhua tus thiaj yuav tau noj nej tej txiv hmab, tej txiv ncuavpias thiab haus tej dej hauv nej tej qhovtshij

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

16Chớ nghe vua Ê-xê-chia; vì vua A-si-ri phán như vầy: Hãy hòa với ta, và ra hàng ta đi, thì các ngươi ai nấy sẽ được ăn trái nho trái vả của mình, uống nước giếng mình,

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

16Đừng nghe Ê-xê-chia, vì vua A-si-ri phán thế nầy: Hãy làm hòa với ta và ra hàng, thì ai cũng sẽ được ăn trái nho, trái vả, và uống nước từ hồ chứa của mình,

Bản Dịch 2011 (BD2011)

16Các ngươi đừng nghe theo Hê-xê-ki-a, vì vua của A-sy-ri nói thế nầy, ‘Hãy đầu hàng ta và ra đây đầu phục ta, thì ai nấy trong các ngươi sẽ được ăn trái nho của mình, ai nấy sẽ được ăn trái vả của mình, và ai nấy sẽ được uống nước của giếng mình,

Bản Dịch Mới (NVB)

16Chớ nghe lời Ê-xê-chia vì vua A-si-ri phán thế này: Hãy làm hòa với ta, đầu hàng ta đi thì mỗi người sẽ được ăn trái nho, trái vả và uống nước giếng mình.

Bản Phổ Thông (BPT)

16Đừng thèm nghe Ê-xê-chia. Vua A-xy-ri khuyên: Hãy cầu hòa với ta, hãy từ thành kéo nhau ra đầu hàng ta thì mỗi người các ngươi sẽ được tự do ăn trái nho, trái vả và uống nước của giếng mình.

Vajtswv Txojlus (HWB)

17mus txog thaum uas kuv tuaj coj nej mus nyob hauv lub tebchaws uas zoo li nej lub tebchaws uas muaj txiv hmab ntau ua cawv thiab muaj nplej ntau ua ncuav.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

17cho tới chừng ta đến, đặng đem các ngươi vào một xứ như xứ các ngươi, tức là xứ có mạch nha và rượu mới, lúa mì và nho.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

17cho tới khi ta đến và đem các ngươi vào một xứ như xứ các ngươi, tức là xứ có ngũ cốc và rượu mới, một xứ có bánh và vườn nho.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

17cho đến khi ta đem các ngươi đến một xứ giống như xứ sở của các ngươi, một xứ đầy lúa gạo và rượu mới, một xứ đầy cơm bánh và vườn nho.’

Bản Dịch Mới (NVB)

17Cho đến khi ta đến và đem các ngươi vào vùng đất như đất của các ngươi, tức là đất có lúa và rượu, đất có bánh và vườn nho.

Bản Phổ Thông (BPT)

17Sau đó ta sẽ đến đưa các ngươi vào một xứ giống như xứ các ngươi, xứ đầy thóc gạo, rượu mới, bánh và vườn nho.’

Vajtswv Txojlus (HWB)

18Tsis txhob cia Hexekiyas dag nej hais tias tus TSWV yuav pab kom nej dim ntawm txojkev nyuaj siab. Luag lwm haivneeg tej vajtswv puas cawm tau kom lawv tej tebchaws dim ntawm cov Axilias tus huabtais txhais tes?

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

18Vậy, hãy giữ mình kẻo vua Ê-xê-chia dỗ dành các ngươi mà rằng: Đức Giê-hô-va sẽ giải cứu chúng ta! Vậy chớ các thần của các nước khác đã giải cứu xứ họ khỏi tay vua A-si-ri được chăng?

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

18Hãy coi chừng, kẻo Ê-xê-chia dỗ dành các ngươi mà nói rằng: “Đức Giê-hô-va sẽ giải cứu chúng ta!” Vậy, có thần nào của các nước đã giải cứu xứ họ khỏi tay vua A-si-ri được không?

Bản Dịch 2011 (BD2011)

18Chớ để Hê-xê-ki-a thuyết phục các ngươi, bảo rằng, ‘CHÚA sẽ cứu chúng ta.’ Trong các thần của các dân, đã có thần nào giải cứu họ khỏi tay vua của A-sy-ri chăng?

Bản Dịch Mới (NVB)

18Hãy coi chừng kẻo Ê-xê-chia dụ dỗ các ngươi mà nói rằng: ‘CHÚA sẽ giải cứu chúng ta.’ Vậy, có thần nào trong số thần của các nước đã giải cứu đất nước họ ra khỏi tay vua A-si-ri chưa?

Bản Phổ Thông (BPT)

18Đừng để Ê-xê-chia gạt các ngươi bảo rằng: ‘CHÚA sẽ cứu chúng ta.’ Có thần nào của các dân khác cứu họ khỏi quyền lực của vua A-xy-ri chưa?

Vajtswv Txojlus (HWB)

19Tamsim no Hamathas thiab Alepas tej vajtswv nyob qhov twg? Xefavais tej vajtswv nyob qhov twg? Lawv puas pab tau cov Xamalis dim ntawm kuv txhais tes?

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

19Nào các thần của Ha-mát và của Ạt-bát đâu tá? Nào các thần của Sê-phạt-va-im đâu tá? Các thần ấy đã cứu Sa-ma-ri ra khỏi tay ta chưa?

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

19Các thần của Ha-mát và Ạt-bát ở đâu? Các thần của Sê-phạt-va-im ở đâu? Các thần ấy có giải cứu Sa-ma-ri khỏi tay ta được không?

Bản Dịch 2011 (BD2011)

19Các thần của Ha-mát và Ạt-bát đâu rồi? Các thần của Sê-phạt-va-im đâu rồi? Các thần ấy há có giải cứu Sa-ma-ri thoát khỏi tay ta chăng?

Bản Dịch Mới (NVB)

19Các thần của Ha-mát và Ạt-bát ở đâu? Các thần của Sê-phạt-va-im ở đâu? Các thần ấy có cứu Sa-ma-ri khỏi tay ta không?

Bản Phổ Thông (BPT)

19Các thần của Ha-mát và Ác-bát đâu? Các thần của Sê-phạt-va-im đâu? Chúng nó đâu có giải cứu Xa-ma-ri ra khỏi tay ta.

Vajtswv Txojlus (HWB)

20Tagnrho cov vajtswv hauv tej tebchaws no, tus vajtswv twg cawm tau nws lub tebchaws dim ntawm kuv txhais tes? Tus TSWV yuav ua li cas thiaj cawm tau lub nroog Yeluxalees kom dim ntawm kuv txhais tes?’ ”

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

20Trong những thần của các xứ đó, có thần nào là thần đã cứu xứ mình ra khỏi tay ta? Mà Đức Giê-hô-va có thể cứu Giê-ru-sa-lem khỏi tay ta được!

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

20Trong tất cả các thần của các xứ nầy, có thần nào đã cứu xứ mình ra khỏi tay ta chưa? Vậy, làm thế nào Đức Giê-hô-va cứu nổi Giê-ru-sa-lem khỏi tay ta!’”

Bản Dịch 2011 (BD2011)

20Há có thần nào trong tất cả các thần của các nước đã giải cứu được đất nước họ khỏi tay ta chăng? Thế thì CHÚA của các ngươi há có thể giải cứu Giê-ru-sa-lem khỏi tay của ta được sao?”

Bản Dịch Mới (NVB)

20Thần nào trong tất cả thần của các nước đã giải cứu đất nước họ khỏi tay ta? Làm sao CHÚA có thể giải cứu Giê-ru-sa-lem khỏi tay ta?”

Bản Phổ Thông (BPT)

20Không có một thần nào của các xứ đó giải cứu dân chúng khỏi tay ta cả. Vì thế CHÚA cũng sẽ không thể giải cứu Giê-ru-sa-lem khỏi quyền lực của ta.”

Vajtswv Txojlus (HWB)

21Tiamsis cov pejxeem nyob ntsiag to thiab tsis hais ib lo lus li, rau qhov Vajntxwv Hexekiyas samhwm hais tias, “Tsis txhob teb nws hlo li.”

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

21Chúng làm thinh, chẳng đáp lại một lời, vì vua có truyền lịnh rằng: Các ngươi đừng đáp lại.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

21Họ im lặng, không đáp lại một lời, vì lệnh vua đã truyền: “Các ngươi đừng đáp lại hắn.”

Bản Dịch 2011 (BD2011)

21Nhưng họ đều im lặng và không đáp lại hắn lấy một lời, vì nhà vua đã truyền lịnh, “Ðừng trả lời hắn.”

Bản Dịch Mới (NVB)

21Nhưng họ im lặng, không trả lời một tiếng nào vì vua đã truyền: “Không được trả lời người.”

Bản Phổ Thông (BPT)

21Dân chúng làm thinh. Họ không trả lời gì cả với viên tư lệnh vì vua Ê-xê-chia đã ra lệnh, “Đừng đối đáp gì hết với hắn.”

Vajtswv Txojlus (HWB)

22Ces Eliyakees uas yog Hilekiyas tus tub uas yog tus saib lub loog, Senpanas uas yog tus teev ntawv thiab Yau-as uas yog Axafes tus tub uas yog tus ceev ntaub ntawv dua rhe lawv tej tsho thiab khiav mus qhia tej lus uas Lasakes hais ntawd rau Vajntxwv Hexekiyas mloog.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

22Ê-li-a-kim, con trai của Hinh-kia, làm chức cung giám, cùng thơ ký Sép-na, sử quan Giô-a, con trai của A-sáp, xé áo mình ra, trở về chầu vua Ê-xê-chia, và thuật lại những lời của Ráp-sa-kê.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

22Ê-li-a-kim, con trai của Hinh-kia, quan quản lý cung điện, cùng thư ký Sép-na, và quan thái sử Giô-a, con trai của A-sáp, xé áo mình ra, trở về gặp vua Ê-xê-chia và thuật lại những lời của Ráp-sa-kê.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

22Ðoạn Ê-li-a-kim con của Hinh-kia quan tổng quản hoàng cung, Sép-na quan ký lục, và Giô-a con của A-sáp quan quản lý văn khố xé rách áo mình, rồi đến gặp Vua Hê-xê-ki-a, thuật lại mọi lời Ráp-sa-kê đã nói.

Bản Dịch Mới (NVB)

22Ê-li-a-kim, con trai Hinh-kia, quan cai quản cung điện; Sép-na, quan ký lục và Giô-a, con trai A-sáp, quan ngự sử đến với vua Ê-xê-chia, xé áo mình mà thuật lại các lời Ráp-sa-kê nói.

Bản Phổ Thông (BPT)

22Sau đó Ê-li-a-kim, Sếp-na, và Giô-a xé quần áo mình để bày tỏ lòng đau buồn. Ê-li-a-kim, con trai Hinh-kia là quản lý cung vua, Sếp-na làm đổng lý văn phòng, còn Giô-a, con A-sáp làm ký lục. Ba người đi gặp vua Ê-xê-chia và thuật lại những gì viên tư lệnh tác chiến nói.