So Sánh Bản Dịch(Tối đa 6 bản dịch)


Vajtswv Txojlus(HWB)

Bản Truyền Thống 1926(VI1934)

Bản Hiệu Đính Truyền Thống(RVV11)

Bản Dịch 2011(BD2011)

Bản Dịch Mới(NVB)

Bản Phổ Thông(BPT)

Vajtswv Txojlus (HWB)

1Zaj lus uas hais ntsig txog cov Npanpiloos tej kev puastsuaj tawm hauv lub tebchaws uas txaus ntshai heev tuaj ib yam li cov khaub zeeg cua ntsawj hla tiaj suabpuam tuaj.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

1Gánh nặng về đồng vắng ở gần biển. Nó đến từ đồng vắng, là đất đáng kinh khiếp, khác nào cơn gió lốc vụt qua trong phương nam.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

1Lời tiên tri về hoang mạc gần biển.Nó đến từ hoang mạc,Là vùng đất kinh hoàng,Giống như cơn gió lốc càn quét Nê-ghép.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

1Sứ điệp về vùng đồng hoang dọc miền duyên hải: Giống như những cơn lốc từ phương nam quét sạch,Kẻ xâm lăng sẽ từ miền sa mạc kéo đến,Từ vùng đất kinh hoàng tiến về.

Bản Dịch Mới (NVB)

1Lời tiên tri về đồng hoang bên cạnh biển. Như cơn gió lốc càn quét vùng đất phía nam,Nó đến từ đồng hoang, Từ miền đất kinh hoàng.

Bản Phổ Thông (BPT)

1Đây là tuyên ngôn nghịch cùng xứ sa mạc gần biển:Thảm họa sẽ đến từ sa mạc như gió nam thổi đến.Thảm hoạ tới từ một xứ kinh khủng.

Vajtswv Txojlus (HWB)

2Tej xwmtxheej phem uas kuv ua yogtoog pom ntawd, yog pom cov neeg ntxeev siab tawm mus tsim kev kub ntxhov thiab cov neeg tubsab tawm mus nyiag luag.Cov Elames, cia li tawm mus ua rog los mas! Cov Medias, cia li tawm mus vij luag tej nroog los mas! Kuv yuav ua kom tej suab quaj suab qw uas cov Npanpiloos ua ntawd ntsiag mus.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

2Có sự hiện thấy hãi hùng đã tỏ ra cho tôi: kẻ gian dối ở gian dối, kẻ tàn hại làm tàn hại! Hỡi người Ê-lam, hãy lên; Hỡi người Mê-đi, hãy vây đi! Ta sẽ làm cho dứt mọi tiếng than thở nó.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

2Có một khải tượng kinh hoàng đã tỏ ra cho tôi:Kẻ phản bội đang phản bội,Kẻ hủy diệt đang hủy diệt!“Hỡi người Ê-lam, hãy tiến lên!Hỡi người Mê-đi, hãy bao vây!Ta sẽ làm cho dứtMọi tiếng than thở của nó.”

Bản Dịch 2011 (BD2011)

2Tôi được báo cho hay một khải tượng hãi hùng;Quân phản bội phản bội,Kẻ hủy diệt hủy diệt.Hỡi Ê-lam, hãy tiến lên,Hỡi Mê-đi, hãy bao vây.Ta sẽ làm cho mọi tiếng thở than chấm dứt.

Bản Dịch Mới (NVB)

2Tôi được báo một khải tượng hãi hùng: Kẻ phản bội, phản bội; kẻ hủy diệt, hủy diệt. Hỡi người Ê-lam hãy tiến lên, hỡi người Mê-đi hãy bao vây. Ta sẽ làm cho mọi tiếng than vãn nó gây ra chấm dứt.

Bản Phổ Thông (BPT)

2Ta đã nhìn thấy một hiện tượng đáng sợ.Ta thấy những kẻ phản bội bị phản bộivà những kẻ phá hoại bị phá hoại.Hỡi Ê-lam, hãy tấn công dân chúng!Hỡi Mê-đi, hãy vây thành và tấn công nó!Ta sẽ chấm dứt sự đau khổ do thành đó gây ra.

Vajtswv Txojlus (HWB)

3Thaum kuv ua yogtoog pom zaj no, kuv ntshai kawg thiab ua rau kuv mob npaum nkaus li tus pojniam mob plab yug menyuam ntag.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

3Vậy nên lưng ta đau lắm, quặn thắt như đàn bà đang sanh đẻ; sự đau đớn mà ta chịu, làm cho ta không nghe, sự kinh hãi làm cho ta không thấy!

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

3Vì thế, lưng tôi đau lắm,Cơn quặn thắt bắt lấy tôiNhư cơn quặn thắt của đàn bà lúc sinh đẻ;Sự đau đớn mà tôi chịu khiến tôi không nghe được,Sự kinh hãi làm cho tôi không thấy được!

Bản Dịch 2011 (BD2011)

3Vì thế, lòng dạ tôi bồi hồi lo lắng;Tôi đau đớn quặn thắt,Như sản phụ đau đớn lúc lâm bồn.Tôi té xỉu khi nghe về nó,Tôi hoảng kinh khi thấy nó đến gần.

Bản Dịch Mới (NVB)

3Cho nên lưng tôi đầy đau đớn; Cơn quặn thắt chiếm lấy tôi như cơn quặn thắt khi sinh đẻ. Tôi ngã quỵ khi nghe, Tôi kinh hoàng khi thấy.

Bản Phổ Thông (BPT)

3Ta đã thấy những việc kinh khủng,và bây giờ đây ta đau đớn;cái đau của ta như người đàn bà đau đẻ.Điều ta nghe làm ta kinh sợ;Điều ta thấy khiến ta run rẩy.

Vajtswv Txojlus (HWB)

4Kuv taubhau kiv heev, thiab kuv ntshai ua ibce tshee hnyo. Kuv tos ib hnub tsaus ntuj tsis muaj dabtsi ua rau kuv cia siab tsuas yog kev txhawj ntshai xwb.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

4Lòng ta mê muội, rất nên khiếp sợ; vốn là chiều hôm ta ưa thích, đã đổi ra sự run rẩy cho ta…

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

4Lòng tôi dao động,Nỗi khiếp sợ khiến tôi bàng hoàng;Buổi hoàng hôn mà tôi mong đợiTrở nên nỗi khiếp sợ cho tôi.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

4Tôi trở nên như kẻ mất hồn,Nỗi kinh hãi đã làm tôi run sợ.Cảnh hoàng hôn tôi trông đợi đã biến thành nỗi kinh hoàng cho tôi.

Bản Dịch Mới (NVB)

4Lòng tôi bối rối, Sự khủng khiếp đổ xuống tôi, Buổi hoàng hôn mà tôi mơ ước Đã làm cho tôi run rẩy.

Bản Phổ Thông (BPT)

4Ta lo âu và run sợ.Buổi chiều êm đềm của tađã biến ra đêm kinh hoàng.

Vajtswv Txojlus (HWB)

5Nyob rau hauv zaj yogtoog muaj ib rooj mov uas twb npaj tiav lawm; luag muab cov ntaub tuab nthuav pua rau cov qhua zaum. Thaum lawv tabtom noj haus, tamsim ntawd txawm muaj lus samhwm tuaj hais tias, “Cov nomtswv, cia li npaj nej cov thaiv hniav ntaj!”

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

5Người ta đặt bàn tiệc, cắt kẻ canh giữ; người ta ăn và uống… Hỡi các quan trưởng, hãy chờ dậy! Hãy thoa dầu cho cái thuẫn!…

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

5Người ta dọn bàn tiệc,Cắt kẻ canh giữ, rồi họ ăn uống.“Hỡi các quan chức, hãy đứng dậy!Hãy bôi dầu vào thuẫn!”

Bản Dịch 2011 (BD2011)

5Họ dọn tiệc, họ trải thảm ra, Họ ăn, họ uống.Hỡi các tướng lãnh, hãy đứng lên, hãy thoa dầu trên các thuẫn khiên.

Bản Dịch Mới (NVB)

5Người ta sửa soạn bữa tiệc, Trải thảm,Ăn và uống. Hỡi các hoàng tử, hãy đứng lên, Hãy xức dầu cho thuẫn của các ngươi.

Bản Phổ Thông (BPT)

5Chúng bày bàn ăn; chúng trải thảm;chúng ăn uống.Hỡi các lãnh tụ, hãy đứng lên.Hãy chuẩn bị khiên để chiến đấu!

Vajtswv Txojlus (HWB)

6Tus TSWV hais rau kuv hais tias, “Cia li tso ib tug txivneej mus saib, thiab cia nws qhia tej uas nws pom rau nej.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

6Vì Chúa phán cùng tôi như vầy: Hãy đi, sắp đặt vọng canh, thấy việc gì thì báo…

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

6Vì Chúa phán với tôi thế nầy:“Hãy đi, đặt người canh gác,Truyền nó báo lại điều gì nó thấy.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

6Vì Chúa đã phán với tôi thế nầy: “Hãy đi, đặt người canh gác,Khi thấy gì thì hãy báo cáo ngay.

Bản Dịch Mới (NVB)

6Vì Chúa phán với tôi như vầy: “Hãy đi, đặt một người canh gác, Để người báo cáo điều gì mình thấy.

Bản Phổ Thông (BPT)

6CHÚA phán cùng ta, “Hãy đi đặt lính canh cho thành, bảo nó báo cáo những gì trông thấy.

Vajtswv Txojlus (HWB)

7Yog hais tias nws pom cov txivneej caij nees ib nkawm quas ib nkawm, thiab cov txivneej uas caij neesluav thiab caij ntxhuav tuaj mas nws yuav tsum ua tib zoo saib kom tseeb tseeb.”

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

7Khi nó thấy quân lính cỡi ngựa đi từng cặp, và có lừa cùng lạc đà từng bầy, thì nó phải chăm chỉ mà nghe.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

7Khi nó thấy quân lính cưỡi ngựa đi từng cặp,Có người cưỡi lừa và lạc đàThì phải chú ý,Phải hết sức chú ý.”

Bản Dịch 2011 (BD2011)

7Khi thấy xe chiến mã với một cặp kỵ binh, hoặc xe do lừa kéo, hoặc xe do lạc đà kéo, thì hãy nghe cho kỹ, hãy quan sát kỹ càng.”

Bản Dịch Mới (NVB)

7Khi nó thấy kỵ binh, Từng cặp cưỡi ngựa, Cưỡi lừa, Cưỡi lạc đà Thì phải chú ý Lắng nghe thật kỹ.”

Bản Phổ Thông (BPT)

7Nếu nó thấy quân xa, ngựa, lừa hay lạc đà, thì phải để ý đặc biệt.”

Vajtswv Txojlus (HWB)

8Tus fajxwm hu los hais tias, “Kuv tus tswv, kuv tau sawv saum qhov chaw fajxwm saib tas hnub tas hmo.”

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

8Đoạn nó kêu lên như sư tử, mà rằng: Hỡi Chúa, tôi đứng rình nơi chòi trông cả ngày, và đứng tại chỗ tôi canh cả đêm.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

8Người canh gác kêu lên:“Thưa chúa, tôi đứng trên tháp canh suốt ngày,Tôi trực tại trạm canh suốt đêm.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

8Rồi người canh gác phải lớn tiếng báo cáo như sư tử rống rằng, “Trình thượng cấp, tôi đứng nơi vọng canh suốt ngày,Tôi trực tại trạm gác thâu đêm.

Bản Dịch Mới (NVB)

8Người canh gác la lên: “Lạy Chúa, tôi đứng trên vọng canh suốt ngày, Tôi ở tại trạm canh suốt đêm.

Bản Phổ Thông (BPT)

8Nếu người lính canh kêu lên,“Chủ ơi, mỗi ngày tôi đứng trên vọng canh trông chừng;mỗi đêm tôi trực gác.

Vajtswv Txojlus (HWB)

9Saib maj! Cov txivneej uas caij nees ib nkawm quas ib nkawm tuaj lawm lauj! Lawv teb hais tias, “Lub nroog Npanpiloos twb poob lawm! Tej vajtswv uas lawv pe poob rau hauv av thiab tawg tas lawm.”

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

9Nầy, có quân lính cỡi ngựa đi từng cặp mà đến. Nó đáp rằng: Ba-by-lôn đổ xuống rồi, đổ xuống rồi! Mọi hình tượng tà thần của nó đã bể nát trên đất rồi!

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

9Kìa, có quân lính cưỡi ngựaĐi từng cặp mà đến!”Rồi người lính canh nói:“Ba-by-lôn đã sụp đổ, sụp đổ rồi!Mọi hình tượng tà thần của nóĐã bể nát dưới đất!”

Bản Dịch 2011 (BD2011)

9Kìa, đạo quân kỵ binh đã đến,Từng cặp kỵ binh trên mỗi xe chiến mã.”Bấy giờ người chỉ huy đáp lại và nói,“Ba-by-lôn đã sụp đổ, đã sụp đổ;Tất cả hình tượng các thần của nó đã vỡ nát tan tành trên mặt đất.”

Bản Dịch Mới (NVB)

9Kìa, nó đến đây rồi. Người kỵ binh, Từng cặp cưỡi ngựa. Nó đáp lời và nói: ‘Ba-by-lôn đã sụp đổ, đã sụp đổ. Tất cả tượng các thần của nó Đã đổ nát dưới đất.’ ”

Bản Phổ Thông (BPT)

9Nầy, tôi thấy một người cỡi quân xa do một đoàn ngựa kéo.”Người đó kêu lên,“Ba-by-lôn đã sụp đổ rồi! Nó sụp đổ rồi!Các thần tượng nó nằm bể tan tành trên mặt đất.”

Vajtswv Txojlus (HWB)

10Kuv haivneeg Yixalayees, nej raug ntaus ib yam li ntaus nplej, tiamsis nimno kuv yuav qhia rau nej paub txog tej xov zoo uas kuv hnov los ntawm tus TSWV uas yog cov Yixalayees tus Vajtswv uas muaj hwjchim loj kawg nkaus.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

10Hỡi lúa bị đạp của ta, là thóc trên sân kia! sự ta đã nghe từ Đức Giê-hô-va vạn quân, tức là Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên, thì ta đã bảo cho ngươi biết.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

10Hỡi kẻ bị đập như thóc trên sân đập lúa của tôi!Điều tôi đã nghe từ Đức Giê-hô-va vạn quân,Là Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên,Thì tôi đã báo cho anh em biết rồi.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

10Hỡi dân tộc tôi, những người bị chà đạp và sàng sảy như lúa thóc,Những gì tôi đã nghe từ CHÚA các đạo quân, Ðức Chúa Trời của I-sơ-ra-ên,Tôi xin loan báo cho các người.

Bản Dịch Mới (NVB)

10Hỡi những kẻ bị chà đạp và sàng sẩy của tôi, Những điều ta nghe Từ CHÚA Vạn Quân, Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên Thì ta loan báo cùng các ngươi.

Bản Phổ Thông (BPT)

10Dân ta bị chà nát như lúa trên sân đập lúa. Hỡi dân ta, ta cho các ngươi biết điều ta nghe từ Đấng Toàn Năng, từ Thượng Đế của Ít-ra-en.

Vajtswv Txojlus (HWB)

11Ntawm no yog zaj lus uas hais txog lub nroog Eloos.Muaj ib tug neeg hu tom Xe-iles tuaj rau kuv hais tias, “Tus fajxwm, tshuav ntev li cas mam kaj ntug? Qhia rau kuv saib thaum twg mam kaj ntug?”

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

11Gánh nặng về Đu-ma. Có người từ Sê-i-rơ kêu tôi rằng: Hỡi người canh, đêm thể nào? Hỡi người canh, đêm thể nào?

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

11Lời tiên tri về Đu-ma:Từ Sê-i-rơ, có tiếng gọi tôi:“Nầy người lính canh, đêm thế nào rồi?Nầy người lính canh, đêm thế nào rồi?”

Bản Dịch 2011 (BD2011)

11Sứ điệp về Ðu-ma: Có người từ Sê-i-rơ gọi tôi,“Hỡi người canh gác, đêm trường còn bao lâu nữa?Hỡi người canh gác, đêm trường còn bao lâu nữa?”

Bản Dịch Mới (NVB)

11Lời tiên tri về Đu-ma. Từ Sê-i-rơ có tiếng gọi tôi: “Người canh ơi, đêm còn dài không? Người canh ơi, đêm còn dài không?”

Bản Phổ Thông (BPT)

11Đây là tuyên ngôn về Đu-ma:Có kẻ từ Ê-đôm gọi ta,“Nầy người gác, đêm còn bao lâu nữa?Nầy người gác, chừng nào thì hết đêm?”

Vajtswv Txojlus (HWB)

12Kuv teb hais tias, “Twb kaj ntug lawm, tiamsis twb yuav rov tsaus ntuj dua. Yog koj xav rov nug ntxiv, cia li hu rov tuaj thiab nug los tau.”

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

12Người canh đáp rằng: Buổi sáng đến; đêm cũng đến. Nếu muốn hỏi thì hỏi đi; hãy trở lại, hãy đến.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

12Người lính canh đáp:“Buổi sáng đến, đêm cũng đến.Nếu muốn hỏi thì cứ hỏi;Nhưng hãy trở lại, hãy đến đây.”

Bản Dịch 2011 (BD2011)

12Người canh gác đáp,“Bình minh sắp ló dạng rồi, nhưng đêm trường cũng cùng đến!Bạn muốn hỏi gì, xin cứ hỏi;Hãy trở lại, hãy đến nhé.”

Bản Dịch Mới (NVB)

12Người canh đáp lời: “Buổi sáng sẽ đến, và đêm cũng đến, Nếu muốn hỏi, hãy hỏi đi. Hãy trở lại, hãy đến.”

Bản Phổ Thông (BPT)

12Người gác trả lời,“Buổi sáng đến, nhưng đêm cũng sẽ tới.Nếu ngươi muốn hỏi thì lát nữa hãy đến mà hỏi.”

Vajtswv Txojlus (HWB)

13Ntawm no yog zaj lus uas hais txog cov Alanpias.Cov neeg Dedas, nej taug kev tsheej pab los so rau ntawm cov Alanpias tej roob mojsab qhua,

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

13Gánh nặng về A-ra-bi. Hỡi đoàn đi buôn ở Đê-đan, sẽ ngủ trong rừng xứ A-ra-bi. Dân cư Thê-ma đã đem nước cho những kẻ khát;

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

13Lời tiên tri về Ả-rập:Hỡi đoàn thương buôn người Đê-đan,Các ngươi sẽ nghỉ đêm trong rừng Ả-rập.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

13Sứ điệp về Ả-rập: Hỡi đoàn thương gia của Ðê-đan,Các người sẽ trú ẩn giữa các lùm cây trong đồng hoang Ả-rập.

Bản Dịch Mới (NVB)

13Lời tiên tri về A-ra-bia. Hỡi đoàn thương nhân Đê-đan, Các người sẽ trọ qua đêm trong các bụi cây A-ra-bia.

Bản Phổ Thông (BPT)

13Đây là tuyên ngôn về Á-rập:Một đoàn thương gia từ Đê-đăngngủ đêm gần trong một khu rừng ở Á-rập.

Vajtswv Txojlus (HWB)

14muab dej rau cov neeg uas tuaj nrhiav dej ntawm nej haus. Nej cov neeg uas nyob hauv tebchaws Temas, muab zaub mov rau cov neeg tawgrog noj.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

14đã đón những người trốn đặng cho họ bánh…

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

14Hỡi cư dân đất Thê-ma,Hãy đem nước đến cho những kẻ khát,Và đem bánh cho những người lánh nạn.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

14Hỡi dân cư ở xứ Tê-ma,Hãy đem nước đến cho những người đang chết khát,Hãy mang bánh đến cho những người đang trốn tránh,

Bản Dịch Mới (NVB)

14Hãy đem nước cho người khát, Hỡi dân cư tại Thê-ma, Hãy đem bánh đón người tị nạn.

Bản Phổ Thông (BPT)

14Chúng cấp nước cho lữ khách đang khát;Dân cư Thê-ma cấp thức ăn cho họ.

Vajtswv Txojlus (HWB)

15Vim lawv khiav kom dim ntawm tej hniav ntaj hniav riam uas yuav tua lawv, thiab khiav ntawm tej hneevnti uas nta tos yuav tua lawv thiab ntawm tej kev tsov kev rog.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

15Vì họ trốn gươm, trốn gươm trần, trốn cung giương ra, trốn sự chiến tranh kinh khiếp.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

15Vì họ chạy trốn để thoát khỏi lưỡi gươm,Trốn khỏi gươm tuốt trần,Trốn khỏi cung giương ra,Và trốn cuộc chiến ác liệt.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

15Vì họ đang trốn khỏi gươm,Họ đang trốn khỏi những lưỡi gươm đã tuốt ra khỏi vỏ,Họ đang trốn khỏi những cây cung đã giương lên,Họ đang trốn khỏi trận chiến tranh khốc liệt.

Bản Dịch Mới (NVB)

15Vì họ chạy trốn gươm đao, Trốn gươm tuốt trần, Trốn cung giương lên, Trốn áp lực chiến tranh.

Bản Phổ Thông (BPT)

15Họ chạy trốn tránh lưỡi gươm,khỏi các lưỡi gươm giết hại,khỏi các cây cung nhắm bắn,khỏi cuộc chiến tàn khốc.

Vajtswv Txojlus (HWB)

16Tus TSWV hais rau kuv hais tias, “Tshuav ib xyoo ib yam li luag ntiav tub zog lawm xwb, mas cov Kedas lub meejmom uas loj yuav dhau mus.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

16Chúa đã phán cùng tôi như vầy: Trong một năm nữa, kể như năm kẻ ở mướn, cả sự vinh hiển của Kê-đa sẽ hao mòn.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

16Chúa đã phán với tôi thế nầy: “Còn một năm nữa, theo năm của người làm thuê, mọi vinh quang của Kê-đa sẽ chấm dứt.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

16Vì đây là những gì Chúa đã phán với tôi:Trong vòng một năm, như số năm người làm thuê hoàn tất giao kèo vừa mãn hạn, tất cả vinh hoa phú quý của Kê-đa sẽ chấm dứt;

Bản Dịch Mới (NVB)

16Vì Chúa đã phán cùng tôi như vầy: “Trong vòng một năm, như các năm của một người làm thuê, tất cả vinh quang của Kê-đa sẽ chấm dứt.

Bản Phổ Thông (BPT)

16CHÚA phán cùng tôi như sau: “Một năm nữa sự huy hoàng của xứ Kê-đa sẽ không còn. (Tức thời gian tính cho người làm thuê.)

Vajtswv Txojlus (HWB)

17Cov Kedas uas txawj tua hneevnti thiab siab tawv, tsuas tshuav qee leej seem lawm xwb. Kuv yog tus TSWV uas yog cov Yixalayees tus Vajtswv, kuv hais tej lus no.”

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

17Những kẻ cầm cung mạnh mẽ, là con cái của Kê-đa, sẽ sót lại chẳng bao lăm. Vì Giê-hô-va, Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên, đã phán vậy.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

17Những dũng sĩ bắn cung của dân Kê-đa còn lại rất ít. Vì Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên đã phán vậy.”

Bản Dịch 2011 (BD2011)

17số dũng sĩ sử dụng cung tên của Kê-đa sẽ còn lại rất ít, vì CHÚA, Ðức Chúa Trời của I-sơ-ra-ên, đã phán vậy.

Bản Dịch Mới (NVB)

17Những người còn sót lại trong số những dũng sĩ cầm cung của dân Kê-đa sẽ rất ít.” Vì CHÚA, Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên đã phán.

Bản Phổ Thông (BPT)

17Lúc đó chỉ còn rất ít lính cầm cung, trong đám lính Kê-đa sống sót.” CHÚA, Thượng Đế của Ít-ra-en phán vậy.