So Sánh Bản Dịch(Tối đa 6 bản dịch)


Vajtswv Txojlus(HWB)

Bản Truyền Thống 1926(VI1934)

Bản Hiệu Đính Truyền Thống(RVV11)

Bản Dịch 2011(BD2011)

Bản Dịch Mới(NVB)

Bản Phổ Thông(BPT)

Vajtswv Txojlus (HWB)

1Cov Mau-am tso neeg cab ib tug menyuam yaj hauv lub nroog Xelas taug txojkev hauv tiaj suabpuam tuaj rau saum lub roob Xi-oos ua khoom pub rau tus nom kav lub tebchaws uas nyob hauv lub nroog Yeluxalees.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

1Hãy gởi chiên con phải dâng cho quan cai trị đất nầy, từ Sê-la sang đồng vắng, đến núi của con gái Si-ôn.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

1Hãy gửi chiên conCho người cai trị vùng đấtTừ Sê-la qua hoang mạc,Đến núi của con gái Si-ôn.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

1Hãy gởi các chiên con làm quà cho người cai trị trong xứ, Từ Sê-la trong vùng đồng hoang đến ngọn núi Ái Nữ của Si-ôn.

Bản Dịch Mới (NVB)

1Hãy gởi cừu con Cho người cai trị vùng đất này, Từ Sê-la qua sa mạc, Đến núi con gái Si-ôn.

Bản Phổ Thông (BPT)

1Hãy gởi triều cống cho lãnh tụ của xứ. Hãy gởi một con chiên con từ Sê-la qua sa mạc đến núi của Con gái Xi-ôn.

Vajtswv Txojlus (HWB)

2Mau-am cov ntxhais mus sawv ntawm ntug Dej Alenoos tos hla dej thiab mus mus los los ib yam li tej menyuam noog uas muab tshem tawm ntawm lub zes.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

2Các con gái Mô-áp tại bến đò Ạt-nôn sẽ giống như chim bay tán loạn, và như một lứa chim con bị quăng ra ngoài ổ.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

2Tại những chỗ cạn của sông Ạt-nôn,Các thiếu nữ Mô-áp bị đuổi điNhư đàn chim vỡ tổ.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

2Bấy giờ tại những khúc sông cạn ở Ạt-nôn,Các thiếu nữ của Mô-áp sẽ chạy trốn tán loạn như đàn chim non vỡ tổ.

Bản Dịch Mới (NVB)

2Các con gái Mô-áp Tại khúc sông cạn Ạt-nôn Sẽ như đàn chim Tan tác vỡ tổ.

Bản Phổ Thông (BPT)

2Các người đàn bà Mô-áp tìm cách băng qua sông Ạc-nônnhư chim con rơi ra khỏi tổ.

Vajtswv Txojlus (HWB)

3Lawv hais rau cov Yudas hais tias, “Thov qhia saib peb yuav ua li cas. Thov nej tsomkwm peb ib yam li tus ntoo uas ua duab ntxoov txias zias thaum tavsu thiab thov cia peb so hauv nej tus duab ntxoov ntxoo. Peb yog neeg tawg rog; thov muab peb zais rau ntawm qhov chaw uas tsis muaj leejtwg tuaj nrhiav tau hlo li.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

3Ngươi hãy lập mưu, hãy làm sự công bình, đang lúc giữa trưa hãy phủ bóng ngươi như ban đêm; hãy che giấu kẻ bị đuổi; chớ bới móc kẻ trốn tránh!

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

3Chúng kêu cứu:“Xin chỉ bảo, xin quyết định,Giữa ban trưa, xin phủ bóng che chúng tôi như ban đêm;Xin che giấu những người bị đuổi,Và đừng tố giác những kẻ trốn tránh!

Bản Dịch 2011 (BD2011)

3“Xin hãy lập một kế hoạch,Xin hãy thực thi công lý;Xin tỏa bóng mát như trời đêm ngay giữa chính ngọ;Xin che giấu những người bị đuổi giết;Ðừng tố giác những người đang lẩn trốn.

Bản Dịch Mới (NVB)

3“Hãy cố vấn, Hãy quyết định. Ngay giữa trưa, Hãy làm cho bóng mát như bóng tối nửa đêm. Xin che giấu những kẻ thoát nạn, Xin đừng phản bội kẻ tị nạn.

Bản Phổ Thông (BPT)

3Họ bảo: “Hãy giúp chúng tôi.Bảo chúng tôi phải làm sao.Hãy bảo vệ chúng tôi khỏi tay kẻ thùnhư bóng mát che chúng tôi khỏi ánh mặt trời buổi trưa.Xin hãy giấu chúng tôi,vì chúng tôi chạy tìm nơi an toàn!Đừng trao chúng tôi vào tay kẻ thù.

Vajtswv Txojlus (HWB)

4Thov cia peb nyob hauv nej lub tebchaws thiab tsomkwm kom peb dim ntawm cov neeg uas nrhiav peb tua.”(Cov neeg limhiam twb yuav dhau mus, kev puastsuaj twb yuav kawg, thiab cov neeg uas tsim kev kub ntxhov rau lub tebchaws kom puastsuaj twb yuav ploj mus.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

4Hãy cho phép những kẻ bị đuổi của ta trú ngụ nơi ngươi! Hãy làm nơi ẩn náu cho Mô-áp khỏi mặt kẻ tàn hại! Vì kẻ cướp giựt đã mất, sự tàn hại đã hết, kẻ giày đạp đã bị diệt khỏi đất nầy.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

4Xin cho phép những kẻ bị đuổi của Mô-ápTrú ngụ giữa các người;Hãy làm nơi ẩn náu cho họKhỏi kẻ hủy diệt.Vì kẻ áp bức sẽ không còn,Sự hủy diệt chấm dứt,Và kẻ giày đạp bị diệt khỏi đất.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

4Hãy cho những người Mô-áp bị đuổi giết được lánh cư;Hãy làm nơi ẩn náu cho họ để họ thoát khỏi tay những kẻ đang truy lùng tiêu diệt họ.” Vì sẽ có lúc những kẻ đàn áp họ không còn nữa;Ý đồ tiêu diệt họ sẽ ngưng;Những kẻ giày đạp họ biến mất khỏi xứ.

Bản Dịch Mới (NVB)

4Xin cho những người Mô-áp thoát nạn ở giữa các người. Xin cho họ trú ẩn khỏi mặt kẻ hủy diệt. Vì kẻ áp bức sẽ không còn nữa, Sự hủy diệt đã chấm dứt, Những kẻ xâm lược đã biến mất khỏi đất.”

Bản Phổ Thông (BPT)

4Hãy để những ai trong chúng tôibị đuổi ra khỏi Mô-áp sống trong xứ ngươi.Xin giấu chúng tôi khỏi kẻ thù.”Cảnh cướp bóc Mô-áp sẽ chấm dứt.Kẻ thù sẽ bị đánh bại;những kẻ hiếp đáp người khác sẽ biến mất khỏi xứ.

Vajtswv Txojlus (HWB)

5Ces yuav tsa Daviv ib tug xeebntxwv ua vajntxwv, nws yuav tswjhwm tsoom pejxeem ntawm lub siab ncaj ncees thiab kev hlub. Nws nrhiav txojkev ncaj ncees thiab maj ceev nrooj ua kom txojkev ncaj ncees ntawd tiav.)

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

5Ấy vậy, ngôi sẽ bởi sự nhân từ mà bền lập; và trong trại Đa-vít sẽ có một Đấng lấy lẽ thật ngồi lên, sẽ đoán xét, sẽ tìm sự ngay thẳng, và vội vàng làm sự công bình.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

5Khi ấy, ngai báu sẽ được vững lập trong sự nhân từ,Trong trại Đa-vít sẽ có một nhà lãnh đạoNgồi trên ngai ấy trong sự trung tín;Người sẽ tìm kiếm công lýVà nhanh chóng thực hiện sự công chính.”

Bản Dịch 2011 (BD2011)

5Bấy giờ một ngai sẽ được lập lên trong tình thương Trong lều của Ða-vít;Trên ngai ấy, một người thành tín sẽ trị vì;Người ấy sẽ luôn kiếm tìm công lý,Và lẹ làng thi hành lẽ công chính.

Bản Dịch Mới (NVB)

5Thế rồi một ngôi sẽ được lập trong tình yêu thương, Một người trong trại Đa-vít Sẽ ngồi trên ngai với lòng trung tín. Người sẽ đoán xét, tìm kiếm công bình Và nhanh nhẹn thi hành công chính.

Bản Phổ Thông (BPT)

5Rồi một vua mới trung thành sẽ đến;vua trung thành nầy sẽ xuất thân từ nhà Đa-vít.Người sẽ phân xử công bằng và làm điều phải.

Vajtswv Txojlus (HWB)

6Cov Yudas teb hais tias, “Peb twb hnov hais tias cov Mau-am yog cov neeg khavtheeb. Peb paub lawv yog neeg khavtheeb thiab muaj plhus, tiamsis lawv tej lus khavtheeb tsis muaj qabhau li.”

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

6Chúng ta có nghe sự kiêu ngạo của Mô-áp, nó kiêu ngạo lắm, cũng nghe nó xấc xược, kiêu căng, giận dữ; sự khoe khoang của nó là vô ích.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

6Chúng ta đã nghe sự kiêu căng của Mô-áp,Nó thật là ngạo mạn!Nó tự cao, kiêu căng và xấc xược;Sự khoe khoang của nó là trống rỗng!

Bản Dịch 2011 (BD2011)

6Chúng ta đã nghe về tánh kiêu ngạo của Mô-áp;Chúng ta đã biết nó kiêu ngạo như thế nào;Nó hay ngang tàng, kiêu căng, và xấc xược;Chúng ta biết rõ: những gì nó phô trương chỉ là rỗng tuếch.

Bản Dịch Mới (NVB)

6Chúng ta đã nghe về sự kiêu ngạo của Mô-áp, Hắn kiêu ngạo là thể nào! Nó trịch thượng, kiêu ngạo và láo xược; Lời khoe khoang nó không ra gì!

Bản Phổ Thông (BPT)

6Chúng ta đã nghe rằng dân Mô-áp rất kiêu căng tự phụ.Chúng rất hợm hĩnh và nóng giận,nhưng sự khoác lác của chúng không ra gì.

Vajtswv Txojlus (HWB)

7Cov neeg Mau-am yuav quaj vim tej kev txomnyem uas lawv raug ntawd. Lawv txhua tus yuav quaj heev thaum lawv nco txog tej zaub mov qab uas lawv noj hauv lub nroog Kiles Heles. Yuav muab lawv raws tawm khiav kom ploj qab ntais.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

7Vậy nên Mô-áp sẽ than khóc vì Mô-áp, ai nấy đều than khóc; các ngươi hãy khóc, hãy thở than vì sự mất bánh trái nho của Kiệt-Ha-rê-sết!

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

7Vì thế, Mô-áp sẽ khóc than,Mọi người đều than khóc vì Mô-áp.Các ngươi hãy khóc, hãy rên xiếtVì bánh nho của Kiệt Ha-rê-sết!

Bản Dịch 2011 (BD2011)

7Vì thế, hãy để cho Mô-áp khóc than,Hãy để cho mọi người Mô-áp khóc than về nó.Hãy cứ khóc lóc sầu thảm,Hãy cực kỳ khổ đau sầu não,Hãy nuối tiếc những bánh nho sản xuất ở Ki-rơ Ha-rê-sết.

Bản Dịch Mới (NVB)

7Cho nên dân Mô-áp than khóc; Mọi người đều than khóc cho Mô-áp.Hãy than thở, cực kỳ đau đớn, Vì bánh trái nho của Kiệt-ha-rê-sốt.

Bản Phổ Thông (BPT)

7Vì thế dân Mô-áp sẽ khóc lóc;chúng nó sẽ buồn thảm.Chúng sẽ than vãn về các bánh nho khô mà chúng đã ăn trong Kiệt Ha-rê-sết.

Vajtswv Txojlus (HWB)

8Tej teb uas nyob ze lub nroog Hesenpoos thiab cov Xinpemas tej vaj txiv hmab raug puastsuaj tas. Cov txiv hmab ntawd yog cov uas luag de los ua cawv rau ntau haivneeg haus. Muaj ib zaug cov txiv hmab ntawd hlav mus deb heev, mus txog ntua ntawm lub nroog Yaxes sab hnubtuaj hlav mus txog ntua tiaj suabpuam, thiab sab hnubpoob hlav mus txog ntua ntawm Hiavtxwv Tuag sab tim ub.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

8Vì ruộng nương của Hết-bôn và cây nho của Síp-ma đều mòn mỏi; ngày trước nó dàn ra tới Gia-ê-xe, lan ra tới đồng vắng, chồi tượt đâm ra tới bên kia biển, mà bây giờ vua chúa các nước đã bẻ gãy nhánh tốt.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

8Vì cánh đồng Hết-bôn đã khô héo,Và vườn nho Síp-ma cũng vậy;Những nhà cai trị các nướcĐã chặt các gốc nho tốt,Mà cành nó từng vươn tới Gia-ê-xe,Lan ra hoang mạc;Chồi của nó đâm raTới bên kia biển.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

8Vì ruộng vườn ở Hết-bôn tiêu điều,Những vườn nho ở Síp-ma cũng vậy,Vua chúa của các dân đã từng bị rượu từ các chùm nho ấy làm say gục, Những cây nho đã từng vươn cành đến tận Gia-ê-xe, lan mãi đến vùng sa mạc;Những nhánh ấy đã mọc tràn ra bên ngoài, băng qua cả đại dương.

Bản Dịch Mới (NVB)

8Vì đồng ruộng của Hết-bôn tiêu điều; Vườn nho của Síp-ma cũng vậy. Vua chúa các nước Đã chặt các cành nho tốt, Mà cành đã từng vươn ra tận Gia-ê-xe, Lan ra sa mạc; Chồi nó đâm ra phía ngoài, Ra tận biển.

Bản Phổ Thông (BPT)

8Nhưng các ruộng của Hết-bônvà cây nho của Xíp-ma không thể ra trái;các kẻ cầm quyền ngoại quốc đã tiêu diệt các dây nho.Kẻ thù đã tới Gia-xe, tràn đến sa mạc và ra đến tận biển.

Vajtswv Txojlus (HWB)

9Yog li ntawd, kuv thiaj quaj rau cov Xinpemas cov txiv hmab ib yam li kuv quaj rau cov neeg Yaxes. Kuv tej kua muag poob rau lub nroog Hesenpoos thiab Ele-ales, vim muaj kev sib ntaus sib tua qw ntshoo nrooj los raug nej tej qoobloo thiab tej nplej uas nej twb sau tau lawm.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

9Vậy nên ta vì cây nho của Síp-ma mà khóc lóc như Gia-ê-xe. Hỡi Hết-bôn, hỡi Ê-lê-a-lê, ta sẽ tưới nước mắt ta trên các ngươi; vì đương lúc trái mùa hạ và mùa gặt thì có tiếng reo của giặc xảy đến.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

9Vì vậy, cùng với sự khóc lóc của Gia-ê-xe,Ta khóc cho vườn nho Síp-ma.Hỡi Hết-bôn, hỡi Ê-lê-a-lê,Ta sẽ tưới nước mắt trên các ngươi,Vì tiếng reo hò của người đạp nho lúc hái trái mùa hạ,Và mùa gặt của các ngươi không còn nữa!

Bản Dịch 2011 (BD2011)

9Vì thế, Ta sẽ khóc với dân Gia-ê-xe khi chúng khóc vì thương tiếc những vườn nho ở Síp-ma;Hỡi Hết-bôn, hỡi Ê-lê-a-lê, nước mắt Ta sẽ dầm dề vì các ngươi,Vì những tiếng hát câu hò trong mùa hái nho và mùa gặt lúa sẽ không còn nữa.

Bản Dịch Mới (NVB)

9Cho nên ta khóc như Gia-ê-xe khóc Cho vườn nho Síp-ma. Hỡi Hết-bôn; hỡi Ê-lê-a-lê, Ta đổ đầy nước mắt cho các ngươi. Vì tiếng reo hò trong mùa hái trái Và mùa gặt của các ngươi đã không còn.

Bản Phổ Thông (BPT)

9Ta than khóc với dân Gia-xe về các dây nho Xíp-ma.Ta than khóc với dân Hết-bôn và Ê-lê-a-lê.Sẽ không có tiếng reo vui,vì sẽ không còn mùa gặt hay trái cây chín nữa.

Vajtswv Txojlus (HWB)

10Nimno tsis muaj leejtwg zoo siab rau tej teb uas zoo qoobloo. Tsis muaj leejtwg qw lossis hu nkauj hauv tej vaj txiv hmab. Tsis muaj leejtwg tsuam tej txiv hmab ua cawv; tej suab qw zoo siab los ntsiag tas lawm.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

10Sự vui mừng hớn hở đã cất khỏi ruộng tốt; trong vườn nho chẳng còn hò hát, reo vui, kẻ đạp rượu chẳng còn đạp trong thùng; ta đã làm dứt tiếng reo vui.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

10Sự vui mừng hoan hỉ đã bị cất khỏiVườn cây ăn quả;Và trong vườn nhoCũng không còn tiếng reo mừng,Không còn ai đạp nho trong hầm ép rượu;Ta đã làm dứt tiếng reo vui của người đạp nho.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

10Niềm hân hoan và vui mừng vì ruộng vườn trúng mùa đã bị cất đi,Trong các vườn nho, tiếng hát ca sẽ không còn nữa, tiếng câu hò sẽ không còn nữa;Tại các bồn ép nho, chẳng còn ai sẽ đạp nho để làm rượu,Vì Ta sẽ làm cho tiếng hát hò ngưng bặt.

Bản Dịch Mới (NVB)

10Niềm hân hoan, vui mừng vì đồng ruộng tươi tốt đã bị cất đi; Tiếng ca hát, reo hò trong vườn nho không còn nữa. Không ai đạp nho làm rượu tại máy ép nho. Ta đã làm cho tiếng hò reo im lặng.

Bản Phổ Thông (BPT)

10Sẽ không còn cảnh hớn hở vui mừng trong vườn cây ăn tráikhông còn bài ca và tiếng reo vui trong vườn nho.Không ai làm rượu nơi bàn ép rượu nữa,vì ta đã làm tắt tiếng mừng rỡ.

Vajtswv Txojlus (HWB)

11Kuv seev tu siab nrho rau lub tebchaws Mau-am thiab lub nroog Kiles Heles.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

11Cho nên lòng ta vì Mô-áp kêu vang như đàn cầm, ruột ta vì Kiệt-Hê-re cũng vậy.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

11Bởi thế, lòng Ta vì Mô-áp than van như tiếng đàn hạc,Tâm hồn Ta vì Kiệt Hê-re cũng vậy.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

11Do đó lòng Ta thổn thức vì Mô-áp, như thể hạc cầm trỗi điệu bi thương,Dạ Ta bồi hồi đau xót vì cớ Ki-rơ Hê-re.

Bản Dịch Mới (NVB)

11Cho nên lòng Ta vì Mô-áp thổn thức như đàn hạc, Tâm ta vì Kiệt-hê-re cũng vậy.

Bản Phổ Thông (BPT)

11Lòng ta khóc cho Mô-áp như đờn cầm đánh bản ai ca;Ta rất đau buồn cho Kiệt Ha-sê-rết.

Vajtswv Txojlus (HWB)

12Thaum cov Mau-am pluav qaug zog zis nce mus rau saum lub roob uas yog qhov chaw lawv teev dab thiab thaum lawv mus txog rau hauv lub tsev teev dab, lawv thov los tsis tau dabtsi.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

12Ví dầu Mô-áp chịu mệt nhọc đặng đi đến nơi cao, dầu vào trong nơi thánh mình để cầu nguyện, cũng chẳng được nhậm!

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

12Lúc ấy, dù Mô-áp chịu mệt nhọc đi đến nơi cao,Vào trong đền miễu nó để cầu nguyện cũng luống công!

Bản Dịch 2011 (BD2011)

12Lúc ấy dù Mô-áp có lên các đền miếu xây cất trên các nơi cao mà mỏi mòn quỳ lạy cầu xin các thần của nó,Dù nó có lên các thánh điện của các thần tượng ấy mà cúng bái kêu cầu,Tất cả đều sẽ luống công vô ích.

Bản Dịch Mới (NVB)

12Lúc ấy dù Mô-áp lên nơi cao Thì chỉ mệt mỏi, Đến nơi thánh của nó để cầu nguyện Cũng sẽ vô ích.

Bản Phổ Thông (BPT)

12Dân Mô-áp sẽ đi đến nơi thờ phụng để cầu khẩn.Nhưng khi chúng đi đến đền thờ cầu nguyện cũng chẳng được nghe.

Vajtswv Txojlus (HWB)

13Tej ntawd yog tus TSWV cov lus uas twb hais rau cov Mau-am ntxov los lawm.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

13Ấy là lời mà xưa kia Đức Giê-hô-va đã phán về Mô-áp.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

13Đó là lời Đức Giê-hô-va đã phán về Mô-áp từ xưa.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

13Ðó là lời của CHÚA đã phán về Mô-áp từ xưa.

Bản Dịch Mới (NVB)

13Đây là lời CHÚA đã phán về Mô-áp từ xưa.

Bản Phổ Thông (BPT)

13Trước đây CHÚA đã phán những lời nầy về Mô-áp.

Vajtswv Txojlus (HWB)

14Tiamsis nimno tus TSWV hais tias, “Tshuav peb xyoo lawm xwb, cov Mau-am lub meejmom yuav poob mus. Feem coob yuav puastsuaj, tsuas tshuav qee leej seem nyob lawm xwb, lawv yuav qaug zog kawg li.”

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

14Bây giờ thì Đức Giê-hô-va phán như vầy: Trong ba năm, kể như năm kẻ ở mướn, sự vinh hiển của Mô-áp với cả đoàn dân đông của nó sẽ bị khinh hèn; và số còn sót lại sẽ ít lắm, không kể ra gì.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

14Nhưng bây giờ, Đức Giê-hô-va phán rằng: “Trong ba năm nữa, theo cách tính của người làm thuê, vinh quang của Mô-áp cùng với đoàn dân đông đảo của nó sẽ bị khinh miệt; số còn sót lại sẽ rất ít và yếu ớt.”

Bản Dịch 2011 (BD2011)

14Nhưng bây giờ CHÚA lại phán, “Trong vòng ba năm nữa, giống như số năm thuê một công nhân lao động, hào quang của Mô-áp, luôn với số dân đông đảo ấy, sẽ bị tiêu tan. Số người còn sót lại sẽ rất ít và sẽ không ra gì.”

Bản Dịch Mới (NVB)

14Nhưng nay CHÚA phán: “Trong ba năm, như số năm thuê một lao động, vinh quang của Mô-áp dù với cả số dân đông đúc, sẽ bị khinh bỉ. Số người sống sót sẽ rất ít và không ra gì!”

Bản Phổ Thông (BPT)

14Nhưng nay CHÚA phán, “Trong ba năm nữa, tức thời gian người làm thuê tính công, cả chúng nó và niềm kiêu căng chúng sẽ bị ghét bỏ. Chỉ sẽ còn sót lại một số rất ít người nhưng vô cùng yếu ớt.”