So Sánh Bản Dịch(Tối đa 6 bản dịch)


Nau Brah Ndu Ngơi(BBSV)

Bản Truyền Thống 1926(VI1934)

Bản Hiệu Đính Truyền Thống(RVV11)

Bản Dịch 2011(BD2011)

Bản Dịch Mới(NVB)

Bản Phổ Thông(BPT)

Nau Brah Ndu Ngơi (BBSV)

1Phung oh mon ma phung kôranh nơm mbơh lor lah ma Y-Êlisê pôaơ: "Ntŭk hên gŭ ta năp măt may jêng rhăt ngăn ma hên.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

1Các môn đồ của những tiên tri nói với Ê-li-sê rằng: Nơi chúng tôi ở trước mặt thầy là hẹp quá cho chúng tôi.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

1Môn đồ của các nhà tiên tri nói với Ê-li-sê: “Thầy xem, nơi chúng con ngồi nghe thầy dạy thật quá chật hẹp cho chúng con.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

1Khi ấy các thầy đang học để trở thành tiên tri nói với Ê-li-sa, “Xin thầy xem đấy, nơi chúng con ngồi nghe thầy dạy thật là chật hẹp so với số người của chúng con.

Bản Dịch Mới (NVB)

1Khi ấy các tiên tri nói với Ê-li-sê: “Xin thầy xem đấy, nơi chúng con ngồi nghe thầy dạy thật là chật hẹp so với số người của chúng con.

Bản Phổ Thông (BPT)

1Các nhà tiên tri nói với Ê-li-sê, “Nơi chúng ta họp với ông ở đây quá chật hẹp.

Nau Brah Ndu Ngơi (BBSV)

2Ăn hên hăn tât ma dak krong Yurdan, gay ăp nơm mra kăl du tơm si ntur, jêh ri tanây ăn hên ƀư du ntŭk gŭ." Y-Êlisê plơ̆ lah: "Hăn hom."

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

2Xin để chúng tôi đi đến Giô-đanh, ai nấy sẽ đốn một cây đòn tay, rồi tại đó cất một nơi ở cho chúng tôi. Ê-li-sê đáp: Hãy đi.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

2Xin cho chúng con đến bờ sông Giô-đanh, mỗi người sẽ đốn một cây, rồi tại đó cất một nơi ở cho chúng ta.” Ê-li-sê đáp: “Hãy đi đi!”

Bản Dịch 2011 (BD2011)

2Xin thầy cho chúng con xuống mé Sông Giô-đanh, mỗi người đốn một cây, rồi cất tại đó một chỗ ở cho chúng ta.” Ông đáp, “Hãy làm như vậy.”

Bản Dịch Mới (NVB)

2Xin thầy cho chúng con xuống mé sông Giô-đanh, mỗi người đốn một cây, rồi cất tại đó một chỗ ở cho chúng ta.” Ông đáp: “Thì làm như vậy đi.”

Bản Phổ Thông (BPT)

2Chúng ta hãy đi đến sông Giô-đanh. Ở đó mỗi người sẽ đốn một khúc gỗ rồi cất nhà ở.”Ê-li-sê nói, “Đi đi.”

Nau Brah Ndu Ngơi (BBSV)

3Du huê tâm phung khân păng lah, "Dăn ma may hăn ndrel ma phung oh mon may." Păng lah, "Gâp mra hăn."

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

3Một người tiếp rằng: Tôi xin thầy hãy đi cùng các tôi tớ thầy. Người đáp:

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

3Một môn đồ thưa: “Xin thầy cùng đi với các đầy tớ thầy.” Ông đáp: “Ta sẽ đi.”

Bản Dịch 2011 (BD2011)

3Một người trong đám họ nói, “Xin thầy đi với các tôi tớ thầy.”Ông đáp, “Tôi sẽ đi.”

Bản Dịch Mới (NVB)

3Một người trong đám họ nói: “Xin thầy đi với các tôi tớ thầy.” Ông đáp: “Ta sẽ đi.”

Bản Phổ Thông (BPT)

3Một người trong họ bảo, “Xin ông hãy đi với chúng tôi.”Ê-li-sê đáp, “Ta sẽ đi,”

Nau Brah Ndu Ngơi (BBSV)

4Pôri păng hăn ndrel ma khân păng. Tât ta dak krong Yurdan, khân păng ntơm kăl tơm si.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

4Ta sẽ đi. Vậy, người đi với họ. Đến Giô-đanh, họ khởi đốn cây.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

4Vậy ông đi với họ. Khi đến bờ sông Giô-đanh, họ bắt đầu đốn cây.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

4Vậy ông đi với họ. Khi đến mé Sông Giô-đanh, họ chặt cây xuống.

Bản Dịch Mới (NVB)

4Vậy ông đi với họ. Khi đến mé sông Giô-đanh, họ chặt cây xuống.

Bản Phổ Thông (BPT)

4rồi ông đi với họ. Khi đến sông Giô-đanh thì họ bắt đầu đốn cây.

Nau Brah Ndu Ngơi (BBSV)

5Ƀiălah geh du huê dôl kăl tơm si, sung nglâng păng tô̆p tâm dak, jêh ri păng nter, "Hơi, kôranh gâp! Sung nây gâp manh ndơ bu!"

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

5Nhưng có một người đương đốn cây, cái lưỡi rìu văng xuống nước. Người la lên rằng: Ớ chúa tôi! than ôi! tôi có mượn nó!

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

5Nhưng có một người đang đốn cây thì lưỡi rìu văng xuống nước. Người ấy kêu lên: “Thầy ơi! Cái rìu nầy con mượn của người ta.”

Bản Dịch 2011 (BD2011)

5Nhưng có một người khi đốn cây, lưỡi rìu bị sút khỏi cán và văng xuống nước. Người ấy kêu lên, “Thôi rồi, thầy ôi! Chiếc rìu nầy con mượn của người ta.”

Bản Dịch Mới (NVB)

5Nhưng có một người đang khi đốn cây thì lưỡi rìu sút khỏi cán và văng xuống nước. Người ấy kêu lên: “Thôi rồi, thầy ôi! Chiếc rìu nầy con mượn của người ta.”

Bản Phổ Thông (BPT)

5Có một người đang chặt cây thì lưỡi rìu sút ra văng xuống nước. Anh kêu lên, “Chủ ơi! Lưỡi rìu đó tôi mượn của người ta!”

Nau Brah Ndu Ngơi (BBSV)

6Bunuyh Brah Ndu lah, "Mbah ntŭk tra păng tô̆p?" Tơlah păng nchŏng jêh ntŭk nây, pôri Y-Êlisê koh du gâl tơm si mƀăr tham ntŭk nây, jêh nây sung nglâng nđông (thông) ntoh kalơ,

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

6Người của Đức Chúa Trời hỏi rằng: Nó rớt ở đâu? Người chỉ chỗ cho. Ê-li-sê bèn chặt một khúc cây quăng xuống tại chỗ đó, làm cho lưỡi rìu nổi lên,

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

6Người của Đức Chúa Trời hỏi: “Nó rơi ở đâu?” Người ấy chỉ chỗ nó văng xuống. Ê-li-sê chặt một khúc cây ném xuống chỗ đó, làm cho lưỡi rìu nổi lên.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

6Người của Ðức Chúa Trời hỏi, “Nó văng xuống chỗ nào?” Người ấy chỉ cho ông chỗ nó văng xuống. Ông chặt một nhánh cây, phóng nó xuống chỗ ấy, lưỡi rìu bằng sắt liền nổi lên.

Bản Dịch Mới (NVB)

6Người của Đức Chúa Trời hỏi: “Nó văng xuống chỗ nào?” Người ấy chỉ cho ông chỗ nó văng xuống. Ông chặt một nhánh cây, phóng xuống chỗ ấy, lưỡi rìu bằng sắt bèn nổi lên.

Bản Phổ Thông (BPT)

6Ê-li-sê hỏi, “Nó rớt chỗ nào?”Người ấy chỉ cho ông chỗ nó rơi. Ê-li-sê liền chặt một que gỗ ném xuống nước thì lưỡi rìu sắt nổi lên.

Nau Brah Ndu Ngơi (BBSV)

7jêh ri păng lah, "Sŏk hom." Nơm nây nto ti jêh ri sŏk sung nglâng nây.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

7và biểu người ấy rằng: Hãy lấy nó đi. Người ấy bèn giơ tay ra và lấy nó.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

7Ông bảo người ấy: “Hãy cầm lên đi!” Người ấy đưa tay ra cầm lấy lưỡi rìu.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

7Ông bảo, “Hãy cầm lấy nó.” Người ấy liền vói tay ra nắm lấy lưỡi rìu.

Bản Dịch Mới (NVB)

7Ông bảo: “Hãy cầm lấy nó.” Người ấy liền vói tay ra nắm lấy lưỡi rìu.

Bản Phổ Thông (BPT)

7Ê-li-sê bảo, “Hãy lượm lưỡi rìu lên đi.” Ngươi ấy giơ tay ra lượm nó.

Nau Brah Ndu Ngơi (BBSV)

8Tơlah hađăch Siri tâm lơh đah phung Israel, păng tâm chră ndrel ma phung oh mon păng, lah: "Gâp mra njêng pôih ta aơ ta ri."

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

8Vả, vua Sy-ri giao chiến với Y-sơ-ra-ên; người thương nghị với các tôi tớ mình, mà rằng: Ta sẽ đóng trại ta tại nơi nọ nơi kia.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

8Lúc bấy giờ, vua A-ram giao chiến với Y-sơ-ra-ên. Vua bàn với các quan tướng của mình: “Ta sẽ đóng quân tại chỗ nầy, chỗ nọ.”

Bản Dịch 2011 (BD2011)

8Thuở ấy vua A-ram giao chiến với dân I-sơ-ra-ên. Vua ấy họp bàn với các quan tham mưu của ông, “Ta sẽ đặt binh phục ở chỗ nọ và chỗ kia.”

Bản Dịch Mới (NVB)

8Thuở ấy vua A-ram giao chiến với Y-sơ-ra-ên. Vua ấy họp bàn với các quan tham mưu của mình rằng: “Ta sẽ đóng trại quân ở chỗ nọ chỗ kia.”

Bản Phổ Thông (BPT)

8Vua A-ram đánh nhau với Ít-ra-en. Ông họp các sĩ quan lại bảo rằng, “Ta sẽ đóng quân chỗ nầy.”

Nau Brah Ndu Ngơi (BBSV)

9Ƀiălah bunuyh Brah Ndu njuăl bâr ngơi ma hađăch Israel, lah: "Njrăng hom, lơi hăn rgăn prot ntŭk aơ ôh, yorlah phung Siri lĕ kâp dâp ta nây."

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

9Người của Đức Chúa Trời bèn sai nói với vua Y-sơ-ra-ên rằng: Khá giữ lấy, chớ đi ngang qua chỗ kia, vì dân Sy-ri phục tại đó.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

9Người của Đức Chúa Trời sai người nói với vua Y-sơ-ra-ên: “Hãy thận trọng, đừng đi ngang qua chỗ ấy, vì quân A-ram đang đi xuống đó.”

Bản Dịch 2011 (BD2011)

9Nhưng người của Ðức Chúa Trời sai người đến báo với vua I-sơ-ra-ên, “Chớ đi qua các chỗ ấy, vì quân A-ram đang mai phục ở đó.”

Bản Dịch Mới (NVB)

9Nhưng người của Đức Chúa Trời sai người đến báo với vua Y-sơ-ra-ên: “Chớ có đi qua chỗ ấy, vì dân A-ram đang phục binh ở đó.”

Bản Phổ Thông (BPT)

9Ê-li-sê người của Thượng Đế cho người nhắn với vua Ít-ra-en rằng, “Hãy cẩn thận, đừng đi qua chỗ ấy vì quân A-ram sẽ kéo đến đó!”

Nau Brah Ndu Ngơi (BBSV)

10Hađăch Israel prơh bunuyh hăn ma ntŭk bunuyh Brah Ndu hŏ nkah ma păng jêh ri lah lor; păng vay mbơh ăn hađăch njrăng, mâu geh kanŏng du tơ̆ mâu lah bar tơ̆.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

10Vậy, vua Y-sơ-ra-ên sai người đến nơi mà người Đức Chúa Trời đã chỉ cho mình và bảo trước; người giữ lấy mình tại đó, chẳng những một hai lần.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

10Vậy, vua Y-sơ-ra-ên sai người đến chỗ mà người Đức Chúa Trời đã báo cho mình, và luôn thận trọng tại những chỗ ấy. Ê-li-sê thường báo trước như thế, không phải chỉ một hai lần mà thôi.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

10Vua I-sơ-ra-ên bèn truyền quân thám báo đến dò xét những chỗ người của Ðức Chúa Trời đã bảo, thì quả đúng như vậy. Hơn một đôi lần Ê-li-sa sai người đến báo như thế. Nhờ vậy vua I-sơ-ra-ên đã đề phòng được.

Bản Dịch Mới (NVB)

10Vua Y-sơ-ra-ên bèn truyền quân thám báo đến dò xét chỗ người của Đức Chúa Trời đã bảo thì quả đúng như vậy. Hơn một đôi lần Ê-li-sê sai người đến báo như thế. Nhờ vậy vua Y-sơ-ra-ên cứ đề phòng luôn.

Bản Phổ Thông (BPT)

10Vua Ít-ra-en soát lại nơi Ê-li-sê đã báo. Ông báo trước cho vua nhiều lần nên vua tránh được những nơi đó, và cứu được nhiều sinh mạng.

Nau Brah Ndu Ngơi (BBSV)

11Yor nau nây hađăch Siri uh ah ngăn tâm nau mĭn. Păng kuăl phung oh mon păng jêh ri lah: "Khân may mra tâm mpơl lĕ ma gâp, mbu nơm tâm phung he gŭ mpeh ma hađăch Israel?"

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

11Lòng vua Sy-ri bối rối về sự ấy, bèn gọi các tôi tớ mình, mà nói rằng: Các ngươi há không tỏ cho ta, ai trong chúng ta là người giúp đỡ vua Y-sơ-ra-ên?

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

11Việc nầy làm cho vua A-ram điên tiết lên nên gọi các thuộc hạ đến và hỏi: “Chẳng lẽ các ngươi không báo cho ta biết ai trong chúng ta đã theo phe vua Y-sơ-ra-ên sao?”

Bản Dịch 2011 (BD2011)

11Vua A-ram rất lấy làm bối rối trong lòng về việc ấy. Ông gọi các quan tham mưu của ông lại và nói, “Chẳng lẽ các ngươi không nói cho ta biết ai trong các ngươi theo phe vua I-sơ-ra-ên hay sao?”

Bản Dịch Mới (NVB)

11Lòng vua A-ram rất bối rối về việc nầy. Vua gọi các quan tham mưu lại và nói: “Chẳng lẽ các ngươi không nói cho ta biết ai trong các ngươi theo phe vua Y-sơ-ra-ên sao?”

Bản Phổ Thông (BPT)

11Vua A-ram rất tức tối về chuyện ấy. Ông triệu tập các sĩ quan lại và hạch hỏi, “Hãy nói cho ta biết ai trong chúng ta làm nội tuyến cho vua Ít-ra-en.”

Nau Brah Ndu Ngơi (BBSV)

12Du huê tâm phung oh mon păng lah, "Mâu geh nơm ôh, Hơi Kôranh gâp hađăch, ƀiălah Y-Êlisê, kôranh nơm mbơh lor gŭ tâm n'gor Israel mbơh ma hađăch Israel nau may ngơi tâm jrô may bêch."

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

12Một người trong những tôi tớ thưa rằng: Ôi vua chúa tôi! chẳng ai trong chúng tôi hết; nhưng Ê-li-sê, tiên tri trong Y-sơ-ra-ên, tỏ cho vua Y-sơ-ra-ên biết các lời vua nói trong phòng ngủ mình.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

12Một người trong những thuộc hạ đáp: “Tâu bệ hạ là chúa tôi, chẳng ai trong chúng tôi cả. Nhưng chính Ê-li-sê, nhà tiên tri của Y-sơ-ra-ên, đã cho vua Y-sơ-ra-ên biết những điều bệ hạ nói trong phòng ngủ của mình.”

Bản Dịch 2011 (BD2011)

12Một trong các tôi tớ của ông tâu, “Tâu bệ hạ, chúa của hạ thần, không ai trong chúng tôi cả. Nhưng ấy là Ê-li-sa, nhà tiên tri của I-sơ-ra-ên. Người ấy có thể bảo cho vua I-sơ-ra-ên biết những lời bệ hạ nói trong phòng ngủ của bệ hạ.”

Bản Dịch Mới (NVB)

12Một trong các người ấy tâu: “Tâu bệ hạ, chúa của hạ thần, không ai trong chúng tôi đâu. Nhưng ấy là Ê-li-sê, tiên tri của Y-sơ-ra-ên, người ấy có thể bảo cho vua Y-sơ-ra-ên biết những lời bệ hạ nói trong phòng ngủ của bệ hạ.”

Bản Phổ Thông (BPT)

12Một trong các sĩ quan thưa, “Tâu vua, không có ai trong chúng tôi làm nội tuyến đâu. Người đó là Ê-li-sê, nhà tiên tri của Ít-ra-en. Ông ta có thể nói cho vua Ít-ra-en biết những điều bí mật kể cả những gì bệ hạ nói trong phòng ngủ mình.”

Nau Brah Ndu Ngơi (BBSV)

13Hađăch lah, "Hăn hom jêh ri uănh ntŭk păng, gay ma gâp prơh bu hăn lơh nhŭp păng." Geh bu nkoch ma hađăch, "Aơ, păng gŭ tâm ƀon Dôthan."

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

13Vua bèn bảo rằng: Hãy đi xem người ở đâu, để ta sai bắt người. Có người đến thuật cho vua rằng: Kìa, người ở tại Đô-than.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

13Vua ấy bảo: “Hãy đi tìm xem ông ấy ở đâu, ta sẽ sai người đến bắt.” Người ta cho vua biết: “Ông ấy ở Đô-than.”

Bản Dịch 2011 (BD2011)

13Ông liền ra lịnh, “Hãy đi và tìm xem người ấy ở đâu. Ta muốn sai quân đi bắt người ấy.” Người ta tâu với ông, “Ông ấy đang ở Ðô-than.”

Bản Dịch Mới (NVB)

13Vua ấy truyền: “Hãy đi và tìm xem người ấy ở đâu. Ta sẽ sai quân đi bắt người ấy.” Người ta tâu với vua: “Ông ấy ở Đô-than.”

Bản Phổ Thông (BPT)

13Vua liền bảo, “Hãy đi truy lùng để ta sai người bắt hắn.”Các đầy tớ đi và trở về báo cáo, “Ông ta đang ở Đô-than.”

Nau Brah Ndu Ngơi (BBSV)

14Yor nây, păng prơh hăn âk seh, ndeh seh, jêh ri du phung tahan âk tât tanây; khân păng tât dôl măng jêh ri nchueng ƀon nây.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

14Vì vậy, vua sai ngựa, xe, và một đạo binh rất đông đến Đô-than; họ tới nơi lúc ban đêm, và vây thành.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

14Vậy vua phái đến đó một lực lượng hùng hậu với ngựa và xe. Họ đến nơi lúc ban đêm và bao vây thành.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

14Vậy vua A-ram sai một đội quân lớn có kỵ binh và các xe chiến mã kéo đến đó. Họ kéo đến vào ban đêm và vây thành.

Bản Dịch Mới (NVB)

14Vậy vua A-ram sai một đội quân lớn có kỵ binh và các xe chiến mã kéo đến đó. Họ kéo đến vào ban đêm và vây thành.

Bản Phổ Thông (BPT)

14Vua liền cho ngựa, quân xa và vô số quân lính đến Đô-than. Chúng kéo đến lúc ban đêm và bao vây thành.

Nau Brah Ndu Ngơi (BBSV)

15Tơlah phung oh mon bunuyh Brah Ndu kah rngăl ôi jêh ri luh du padih, saơ du phung tahan âk ndrel ma âk seh jêh ri ndeh seh nchueng ƀon. Păng mbơh ma Y-Êlisê pôaơ: "Hơi, Kôranh gâp, mâm he mra ƀư?"

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

15Tôi tớ của người Đức Chúa Trời chỗi dậy sáng sớm đi ra, thấy một đạo binh cùng ngựa và xe đương vây thành. Người nói với Ê-li-sê rằng: Hỡi ôi! chúa, chúng ta sẽ làm sao?

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

15Đầy tớ của người Đức Chúa Trời dậy sớm và đi ra ngoài thì thấy quân lính với ngựa và xe đang bao vây thành. Anh ta nói với Ê-li-sê: “Thầy ơi! Chúng ta làm sao đây?”

Bản Dịch 2011 (BD2011)

15Sáng sớm, một người hầu của người của Ðức Chúa Trời đi ra và thấy một đạo quân với các ngựa chiến và các xe chiến mã đang vây thành. Người đầy tớ ấy nói, “Chết rồi, thầy ơi! Làm sao bây giờ?”

Bản Dịch Mới (NVB)

15Sáng sớm, một người đầy tớ của người Đức Chúa Trời đi ra và thấy một đạo quân với các ngựa chiến và các xe chiến mã đang vây thành. Người đầy tớ ấy bèn nói: “Chết rồi, thầy ơi! Làm sao bây giờ?”

Bản Phổ Thông (BPT)

15Đứa đầy tớ của Ê-li-sê dậy sớm đi ra thì thấy một đạo quân cùng ngựa và quân xa vây quanh thành.Nó hốt hoảng kêu lên, “Chủ ơi, chúng ta sẽ làm sao đây?”

Nau Brah Ndu Ngơi (BBSV)

16Y-Êlisê plơ̆ lah: "Lơi klach ôh, yorlah phung gŭ ndrel he jêng âk lơn ma phung gŭ ndrel ma khân păng."

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

16Ê-li-sê đáp rằng: Chớ sợ, những người ở với chúng ta đông hơn những người ở với chúng nó.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

16Ông bảo: “Đừng sợ, vì những người ở với chúng ta đông hơn những người ở với chúng nó.”

Bản Dịch 2011 (BD2011)

16Ông đáp, “Ðừng sợ, vì những người ở với chúng ta đông hơn những người ở với chúng.”

Bản Dịch Mới (NVB)

16Ông đáp: “Đừng sợ. Vì những người ở với chúng ta đông hơn những người ở với chúng.”

Bản Phổ Thông (BPT)

16Ê-li-sê đáp, “Đừng sợ. Phe chúng ta đông hơn phe của họ.”

Nau Brah Ndu Ngơi (BBSV)

17Jêh ri Y-Êlisê mbơh sơm, jêh ri lah, "Hơi Yêhôva, gâp dăn ma may pơk ăn măt oh mon gâp, gay păng dơi saơ." Pôri Yêhôva pơk măt buklâu ndăm nây, păng dơi lin saơ; pôri păng saơ kalơ yôk bêng ma seh jêh ri ndeh seh ŭnh gŭ jŭm Y-Êlisê.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

17Đoạn, Ê-li-sê cầu nguyện mà rằng: Đức Giê-hô-va ôi, xin mở mắt kẻ tôi tớ tôi, để nó thấy được. Đức Giê-hô-va mở mắt người ra, thì người thấy núi đầy những ngựa và xe bằng lửa ở xung quanh Ê-li-sê.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

17Rồi Ê-li-sê cầu nguyện: “Lạy Đức Giê-hô-va, xin mở mắt cho đầy tớ của con để nó thấy được.” Đức Giê-hô-va mở mắt người đầy tớ, và anh ta thấy núi đầy những ngựa và chiến xa bằng lửa đang bao quanh Ê-li-sê.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

17Ðoạn Ê-li-sa cầu nguyện, “Lạy CHÚA, xin Ngài mở mắt cho đầy tớ của con để anh ấy có thể thấy được.” Vậy CHÚA mở mắt cho người đầy tớ, và người ấy thấy trên núi đầy những ngựa lửa và các xe chiến mã bằng lửa đang bao quanh bảo vệ Ê-li-sa.

Bản Dịch Mới (NVB)

17Rồi Ê-li-sê cầu nguyện: “Lạy CHÚA, xin Ngài mở mắt cho đầy tớ của con để nó có thể thấy được.” Vậy CHÚA mở mắt cho đầy tớ ấy, và người ấy thấy trên núi đầy những ngựa lửa và các xe chiến mã bằng lửa đang bao quanh bảo vệ Ê-li-sê.

Bản Phổ Thông (BPT)

17Rồi Ê-li-sê cầu nguyện, “CHÚA ơi, xin mở mắt cho kẻ tôi tớ con để nó thấy.”CHÚA liền mở mắt cho chàng thanh niên thì nó thấy núi đầy ngựa và quân xa bằng lửa xung quanh Ê-li-sê.

Nau Brah Ndu Ngơi (BBSV)

18Phung tahan âk Siri n'hoch trŭnh rlet ma ntŭk Y-Êlisê; păng mbơh sơm ma Yêhôva pô aơ: "Gâp dăn ma May lơh ma phung ƀon lan aơ ma nau chieh măt." Pôri Yêhôva lơh phung nây ma nau chieh măt tĭng nâm nau Y-Êlisê mbơh sơm.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

18Quân Sy-ri kéo xuống nơi Ê-li-sê; người cầu nguyện Đức Giê-hô-va rằng: Xin Chúa khiến mắt quân ấy bị đui mù. Đức Chúa Trời bèn khiến chúng đui mù, theo như lời cầu nguyện của Ê-li-sê.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

18Lúc quân A-ram kéo xuống phía Ê-li-sê thì ông cầu nguyện với Đức Giê-hô-va: “Xin Chúa khiến quân ấy bị mù.” Ngài khiến chúng bị mù như lời Ê-li-sê cầu xin.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

18Khi quân A-ram xuống tấn công Ê-li-sa, ông cầu nguyện với CHÚA, “Con cầu xin Ngài đánh cho những người nầy bị mù mắt hết.” Ngài bèn làm cho những người ấy bị mù mắt hết, y như Ê-li-sa đã cầu xin.

Bản Dịch Mới (NVB)

18Khi quân A-ram xuống tấn công Ê-li-sê, ông cầu nguyện với CHÚA: “Con xin Ngài hãy đánh cho dân nầy bị mù mắt.” Ngài bèn khiến cho dân ấy bị mù mắt y như Ê-li-sê đã cầu xin.

Bản Phổ Thông (BPT)

18Khi quân thù tiến về phía Ê-li-sê thì ông cầu nguyện cùng CHÚA, “Xin Ngài khiến chúng bị đui mù.”CHÚA liền khiến đạo quân A-ram bị mù theo như lời Ê-li-sê xin.

Nau Brah Ndu Ngơi (BBSV)

19Jêh nây Y-Êlisê lah ma khân păng pô aơ: "Aơ mâu di trong ôh, jêh ri mâu di ƀon lĕ. Tĭng ndô̆ hom gâp, gâp mra njŭn leo khân may tât bunuyh khân may ŭch joi." Jêh nây păng leo khân păng tât ta ƀon Samari.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

19Đoạn, Ê-li-sê nói với chúng nó rằng: Đây không phải là đường, đây chẳng phải là thành. Hãy theo ta, ta sẽ dẫn các ngươi đến người mà các ngươi tìm kiếm. Rồi người dẫn chúng nó đến Sa-ma-ri.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

19Ê-li-sê nói với chúng: “Đây không phải là đường, đây cũng chẳng phải là thành. Hãy theo tôi, tôi sẽ dẫn các anh đến người mà các anh tìm kiếm.” Rồi ông dẫn chúng đến Sa-ma-ri.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

19Ê-li-sa nói với chúng, “Ðường nầy chưa phải. Thành nầy chưa đúng. Hãy theo tôi, tôi sẽ dẫn các anh đến với người mà các anh đang tìm kiếm.” Rồi ông dẫn họ đến Sa-ma-ri.

Bản Dịch Mới (NVB)

19Ê-li-sê nói với họ: “Đây không phải là đường. Đây cũng không phải là thành. Tôi sẽ dẫn các anh đến người mà các anh đang tìm kiếm.” Rồi ông dẫn họ đến Sa-ma-ri.

Bản Phổ Thông (BPT)

19Ê-li-sê bảo chúng, “Đây không phải đường hay thành. Hãy theo ta, ta sẽ đưa các anh đến người mà các anh đang tìm.” Ê-li-sê-liền dẫn chúng đến Xa-ma-ri.

Nau Brah Ndu Ngơi (BBSV)

20Tơlah khân păng lĕ tât jêh tâm trôm ƀon Samari, Y-Êlisê lah, "Hơi Yêhôva pơk hom măt phung bunuyh aơ, ăn khân păng lin dơi saơ khân păng nơm ta nklang ƀon Samari.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

20Khi chúng nó đã vào trong Sa-ma-ri rồi, Ê-li-sê cầu rằng: Lạy Đức Giê-hô-va, xin mở mắt cho chúng nó thấy. Đức Giê-hô-va bèn mở mắt họ, họ thấy mình ở giữa Sa-ma-ri.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

20Vừa khi chúng vào Sa-ma-ri thì Ê-li-sê cầu nguyện: “Lạy Đức Giê-hô-va, xin mở mắt cho những người nầy để chúng thấy được.” Đức Giê-hô-va mở mắt chúng, và chúng thấy mình đang ở giữa thành Sa-ma-ri.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

20Vừa khi họ vào trong Thành Sa-ma-ri, Ê-li-sa nói, “Lạy CHÚA, bây giờ xin Ngài mở mắt những người nầy để họ thấy.” CHÚA mở mắt họ, và họ thấy họ đang ở trong Thành Sa-ma-ri.

Bản Dịch Mới (NVB)

20Vừa khi họ vào trong thành Sa-ma-ri, Ê-li-sê nói: “Lạy CHÚA, bây giờ xin Ngài mở mắt những người nầy để họ thấy.” CHÚA bèn mở mắt họ và họ thấy mình đang ở trong thành Sa-ma-ri.

Bản Phổ Thông (BPT)

20Sau khi chúng đã vào thành Xa-ma-ri, Ê-li-sê-liền cầu nguyện, “Lạy CHÚA, xin mở mắt chúng để chúng thấy được.”CHÚA liền mở mắt chúng. Đạo quân A-ram vô cùng sửng sốt khi thấy mình đang ở giữa thành Xa-ma-ri!

Nau Brah Ndu Ngơi (BBSV)

21Tơlah hađăch Israel saơ khân păng, pôri lah ma Y-Êlisê pô aơ: "Hơi mbơ̆! Dơi lĕ gâp nkhĭt lơi khân păng?"

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

21Vua Y-sơ-ra-ên thấy chúng nó, thì nói với Ê-li-sê rằng: Hỡi cha! phải đánh chúng nó chăng? phải đánh chúng nó chăng?

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

21Khi thấy chúng, vua Y-sơ-ra-ên hỏi Ê-li-sê: “Thưa cha, tôi phải giết chúng không? Tôi phải giết chúng không?”

Bản Dịch 2011 (BD2011)

21Khi vua I-sơ-ra-ên thấy họ, ông nói với Ê-li-sa, “Thưa cha, tôi có thể giết chúng được không? Tôi có thể giết chúng được không?”

Bản Dịch Mới (NVB)

21Khi vua của Y-sơ-ra-ên thấy họ thì nói với Ê-li-sê: “Thưa cha, tôi phải giết chúng không? Tôi phải giết chúng không?”

Bản Phổ Thông (BPT)

21Khi vua Ít-ra-en thấy đạo quân A-ram, ông hỏi Ê-li-sê, “Cha ơi, tôi có nên giết chúng không? Có giết không?”

Nau Brah Ndu Ngơi (BBSV)

22Y-Êlisê plơ̆ lah, "Lơi nkhĭt khân păng ôh. May mra nkhĭt lĕ ma phung may lơh ma tak đao jêh ri hăr na ƀư ăn jêng bună, mâm may nkhĭt lĕ? Rep ndrăp hom piăng let jêh ri dak ta năp khân păng, gay ăn khân păng sa jêh ri nhêt, jêh nây sĭt ma kôranh khân păng. Ntơm bơh nây phung Siri mâu hôm văch lăp lơh đŏng ôh tâm n'gor Israel. Y-Êlisê jêh ri nau bu nchueng ƀon Samari.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

22Ê-li-sê đáp rằng: Chớ đánh. Những người vua dùng gươm và cung mà bắt làm phu tù, vua há đánh sao? Hãy dọn trước mặt chúng bánh và rượu, để cho chúng ăn và uống, rồi trở về cùng chủ mình.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

22Ê-li-sê trả lời: “Đừng giết chúng! Vua có giết những người mà vua dùng gươm và cung bắt làm tù binh không? Hãy dọn bánh và nước cho chúng ăn uống, rồi để chúng trở về với chủ mình.”

Bản Dịch 2011 (BD2011)

22Ông đáp, “Ðừng. Những người ngài dùng gươm và cung mà bắt sống, ngài có giết họ không? Hãy lấy bánh và nước đãi họ ăn uống, rồi thả họ về với chủ họ.”

Bản Dịch Mới (NVB)

22Ông đáp: “Đừng. Những người mà vua dùng gươm và cung mà bắt sống, vua có giết họ không? Hãy lấy bánh và nước ra đãi họ ăn uống; rồi thả họ về với chủ họ.”

Bản Phổ Thông (BPT)

22Ê-li-sê đáp, “Đừng giết họ. Vua không giết kẻ nào bị vua bắt được bằng gươm hay cung tên. Hãy đãi họ ăn uống rồi trả họ về cho chủ họ.”

Nau Brah Ndu Ngơi (BBSV)

24Pakơi tanây, Y-Ben-Hadat, hađăch Siri riu lĕ phung tahan păng jêh ri hăn hao nchueng ƀon Samari.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

24Sau các điều đó, Bên-Ha-đát, vua Sy-ri, nhóm cả đạo binh mình, đi lên vây thành Sa-ma-ri.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

24Nhưng ít lâu sau, Bên Ha-đát, vua A-ram, tập hợp toàn quân kéo lên bao vây thành Sa-ma-ri.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

24Sau đó ít lâu Bên Ha-đát vua của A-ram huy động toàn bộ quân lực của ông, kéo đến Sa-ma-ri, và bao vây thành.

Bản Dịch Mới (NVB)

24Sau đó ít lâu, vua Bên Ha-đát của A-ram huy động toàn bộ quân đội mình. Vua kéo đến Sa-ma-ri và bao vây thành.

Bản Phổ Thông (BPT)

24Về sau, Bên-ha-đát, vua A-ram kéo toàn quân đến vây thành Xa-ma-ri.

Nau Brah Ndu Ngơi (BBSV)

25Tâm ƀon Samari dôl geh nau sau sât ji ngot toyh ngăn, ƀon lĕ bu nchueng jŏ jêh; kŏ tât du bôk seh bri bu tăch pham jê̆t sêkel prăk, jêh ri du kô̆ tâm puăn kab, ek ntơp bu tăch prăm sêkel prăk.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

25Trong Sa-ma-ri đương có sự đói kém lớn lắm, thành bị vây hãm lâu ngày, đến đỗi một cái đầu lừa bán tám mươi siếc-lơ bạc, và một góc tư ô phân bồ câu bán năm siếc-lơ bạc.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

25Vì thành bị bao vây lâu ngày nên ở Sa-ma-ri xảy ra nạn đói trầm trọng đến nỗi một đầu lừa bán tám mươi miếng bạc, và một bát nhỏ phân bồ câu bán năm miếng bạc.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

25Vì thành bị vây khá lâu, nên trong thành có cơn đói kém lớn, đến nỗi một cái đầu lừa giá bán đến hai mươi bốn lượng rưỡi bạc, còn một phần tư lít phân bồ câu cũng bán được một lượng rưỡi bạc.

Bản Dịch Mới (NVB)

25Vì thành bị vây khá lâu, nên trong thành có cơn đói kém lớn, đến nỗi một cái đầu lừa giá bán đến hai mươi bốn lượng bạc, còn một phần tư lít phân bồ câu cũng bán được một lượng rưỡi bạc.

Bản Phổ Thông (BPT)

25Xa-ma-ri lâm nạn đói trầm trọng. Nạn đói tệ hại đến nỗi một đầu lừa bán khoảng hai cân bạc, và một phần tư lít phân bồ câu bán khoảng hai lượng bạc.

Nau Brah Ndu Ngơi (BBSV)

26Dôl hađăch Israel rgăn ta kalơ mpêr ƀon, du huê bu ur nter ma păng, lah, "Kơl an gâp; Hơi kôranh gâp, hađăch!"

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

26Khi vua Y-sơ-ra-ên đi ngang qua trên tường thành, có một người đàn bà kêu người rằng: Ôi vua chúa tôi, xin cứu tôi!

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

26Khi vua Y-sơ-ra-ên đang đi lại trên tường thành thì có một phụ nữ kêu cứu với vua: “Ôi bệ hạ là chúa tôi, xin cứu giúp tôi!”

Bản Dịch 2011 (BD2011)

26Khi vua I-sơ-ra-ên đi thanh tra trên tường thành, ông gặp một bà nọ kêu cứu với ông, “Thưa hoàng thượng, chúa của tôi, xin giúp đỡ tôi.”

Bản Dịch Mới (NVB)

26Khi ấy vua Y-sơ-ra-ên đi thanh tra trên tường thành, thì có một bà nọ kêu cầu với vua: “Xin hãy giúp đỡ tôi, tâu vua, chúa của tôi.”

Bản Phổ Thông (BPT)

26Khi vua Ít-ra-en đi ngang qua trên vách thành thì một người đàn bà réo gọi vua, “Thưa vua chúa tôi, xin giúp tôi!”

Nau Brah Ndu Ngơi (BBSV)

27Hađăch lah, "Tơlah Yêhôva mâu kơl ôh ay, mâm gâp dơi kơl ay? Tă bơh ntŭk plên ba, mâu lah tă bơh ntŭk păt play kriăk ƀâu lĕ?"

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

27Vua nói: Nếu Đức Giê-hô-va không cứu ngươi, thì ta lấy đâu đặng cứu ngươi? Bởi sân đạp lúa hay là bởi nơi ép rượu sao?

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

27Vua trả lời: “Nếu Đức Giê-hô-va không cứu giúp ngươi thì ta lấy gì để giúp ngươi? Đâu còn gì ở sân đập lúa hay tại bàn ép rượu nho?”

Bản Dịch 2011 (BD2011)

27Ông nói, “Nếu CHÚA không giúp đỡ bà, ta cũng không biết lấy gì để giúp đỡ bà bây giờ. Ở sân đập lúa hay trong bồn ép rượu nho nào có còn gì chăng?”

Bản Dịch Mới (NVB)

27Vua đáp: “Nếu CHÚA không giúp đỡ ngươi, thì ta cũng không biết lấy gì để giúp đỡ ngươi bây giờ. Đâu còn gì ở sân đạp lúa hay là trong bàn ép rượu nho đâu?”

Bản Phổ Thông (BPT)

27Vua đáp, “Nếu CHÚA không giúp chị thì làm sao tôi giúp chị được? Bộ tôi có thể giúp chị được nhờ sân đập lúa hay máy ép rượu sao?”

Nau Brah Ndu Ngơi (BBSV)

28Jêh ri hađăch ôp ma păng, "Moh nau jêr ay?" Păng plơ̆ lah, "Buur aơ lah ma gâp, 'Ăn kon ay gay mra he sa ôbăl nar aơ, jêh ri ôi taơ he mra sa kon buklâu gâp.'

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

28Vua lại rằng: Ngươi có chi? Nàng thưa rằng: Đàn bà nầy nói với tôi rằng: Hãy cho con trai chị, hầu ngày nay chúng ta ăn thịt nó; ngày mai chúng ta sẽ ăn thịt con trai ta.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

28Rồi vua hỏi bà ấy: “Ngươi có việc gì?” Bà ấy thưa: “Bà nầy nói với tôi: ‘Hôm nay hãy đem con trai chị ra đây để chúng ta ăn thịt nó, rồi ngày mai chúng ta sẽ ăn thịt con trai của tôi.’

Bản Dịch 2011 (BD2011)

28Ðoạn vua hỏi bà ấy, “Bà kêu van việc gì?”Bà ấy đáp, “Mụ nầy đã nói với tôi, ‘Hãy đem con trai chị ra đây. Hôm nay chúng ta ăn thịt nó, rồi ngày mai chúng ta sẽ ăn thịt con trai tôi.’

Bản Dịch Mới (NVB)

28Rồi vua hỏi bà ấy: “Ngươi kêu van việc gì?” Bà ấy đáp: “Mụ nầy có nói với tôi: ‘Hãy đem con trai chị ra đây. Hôm nay chúng ta ăn thịt nó, rồi ngày mai chúng ta sẽ ăn thịt con trai tôi.’

Bản Phổ Thông (BPT)

28Vua hỏi, “Chuyện gì vậy?”Chị thưa, “Bà nầy nói với tôi, ‘Hãy trao con chị để chúng ta ăn thịt nó bữa nay rồi ngày mai chúng ta sẽ ăn thịt con tôi.’

Nau Brah Ndu Ngơi (BBSV)

29Pôri hên gâm kon buklâu gâp, jêh ri sa ôbăl. Ôi taơ gâp geh lah ma păng pô aơ: 'Ăn hom kon ay, gay he sa ôbăl.' Ƀiălah păng pôn lơi kon bu klâu păng."

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

29Vậy, chúng tôi có nấu thịt con trai tôi và ăn. Ngày mai tôi có nói với người rằng: Hãy cho con trai chị, hầu chúng ta ăn nó. Nhưng người có giấu con trai mình.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

29Vậy chúng tôi đã nấu con tôi và ăn thịt nó. Hôm sau, tôi nói với bà ấy: ‘Hãy đem con chị ra đây để chúng ta ăn thịt nó.’ Nhưng bà ấy đã giấu con mình.”

Bản Dịch 2011 (BD2011)

29Vậy chúng tôi đã nấu con trai tôi và ăn thịt nó. Ngày hôm sau, tôi bảo mụ ấy, ‘Hãy đưa con chị ra đây, để chúng ta ăn thịt nó.’ Nhưng mụ ấy đã đem con trai mình giấu đi mất.”

Bản Dịch Mới (NVB)

29Vậy chúng tôi có nấu con trai tôi và ăn thịt nó. Ngày hôm sau, tôi bảo mụ ấy: ‘Hãy đưa con chị ra đây để chúng ta ăn thịt nó.’ Nhưng mụ ấy đã đem con trai mình mà giấu đi mất.”

Bản Phổ Thông (BPT)

29Vậy chúng tôi nấu con tôi và ăn thịt nó. Hôm sau tôi hỏi chị, ‘Đưa con chị đây để chúng ta ăn thịt nó.’ Nhưng chị đem giấu nó.”

Nau Brah Ndu Ngơi (BBSV)

30Tơlah hađăch tăng nau bu ur nây ngơi, păng nkhêk lơi bok ao păng--păng rgăn hăn ta kalơ mpêr, phung ƀon lan uănh, jêh ri saơ, păng nsoh ao kroh mpeh tâm trôm nkŭm săk păng."

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

30Khi vua nghe lời của người đàn bà nầy, thì xé quần áo mình. Bấy giờ, người đang đi ngang qua trên tường thành, dân sự xem thấy người phía trong mặc cái bao sát vào thịt mình.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

30Khi nghe những lời của phụ nữ nầy nói xong thì vua liền xé áo mình. Lúc ấy, vua đang đi lại trên tường thành nên dân chúng có thể thấy vua đang mặc áo sô.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

30Sau khi vua nghe những lời bà ấy nói, ông xé toạc áo choàng ông đang mặc. Lúc ấy ông đang đi thanh tra trên tường thành, nên người ta có thể trông thấy ông đang mặc một lớp vải gai bên trong.

Bản Dịch Mới (NVB)

30Khi vua nghe những lời bà ấy nói xong thì vua xé áo mình. Vả, khi ấy vua đang đi thanh tra trên tường thành, nên người ta có thể trông thấy vua đang mặc một lớp vải gai bên trong.

Bản Phổ Thông (BPT)

30Vua vừa nghe lời người đàn bà thuật liền xé quần áo mình trong đau khổ. Khi vua đang đi dọc theo vách thành thì người ta nhìn thì thấy vua mặc quần áo vải sô bên dưới lớp quần áo thường để bày tỏ sự đau buồn.

Nau Brah Ndu Ngơi (BBSV)

31Hađăch nter huy, păng lah pô aơ: "Tơlah nar aơ bôk Y-Êlisê, kon bu klâu Y-Saphat hôm e kalơ săng nglik păng, lah Brah Ndu ƀư ma gâp tâm ban pônây jêng du nau jâk ngăn!"

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

31Vua la lên rằng: Nếu ngày nay đầu của Ê-li-sê, con trai của Sa-phát, hãy còn ở trên vai nó, nguyện Đức Chúa Trời xử ta cách nặng nề!

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

31Vua thề rằng: “Nguyện Đức Chúa Trời phạt ta cách nặng nề, nếu hôm nay đầu của Ê-li-sê, con Sa-phát, còn ở trên vai nó.”

Bản Dịch 2011 (BD2011)

31Ông nói, “Nguyện Ðức Chúa Trời phạt ta cách nặng nề, nếu hôm nay cái đầu của Ê-li-sa con của Sa-phát vẫn còn nằm trên vai ông ấy.”

Bản Dịch Mới (NVB)

31Vua nói: “Nguyện Đức Chúa Trời phạt ta cách nặng nề, nếu hôm nay cái đầu của Ê-li-sê, con trai Sa-phát, vẫn còn nằm trên vai nó.”

Bản Phổ Thông (BPT)

31Vua nói, “Nếu hôm nay đầu của Ê-li-sê, con trai Sa-phát chưa bị chém thì nguyện Thượng Đế phạt ta thật nặng!”

Nau Brah Ndu Ngơi (BBSV)

32Y-Êlisê dôl gŭ tâm ngih păng nơm, jêh ri nđâp phung buranh gŭ ndrel jŭm păng. Pôri hađăch prơh hăn du huê bunuyh hăn panăp păng tât ma kôranh nơm mbơh lor. Ƀiălah ê lor bunuyh nây tât, Y-Êlisê lah ma phung bu bŭnh buranh, "Khân may saơ lĕ nơm nkhĭt bunuyh nây prơh hăn du huê bunuyh ŭch koh trôko gâp? Uănh hom, tơlah nơm bu prơh văch tât, ntĭl lơi mpông jêh ri kuăn rđâng ăn nâp mpông, lơi ăn păng lăp ôh. Mâm khân may mâu tăng nteh chuat jâng kôranh păng groi pakơi păng?"

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

32Ê-li-sê đương ngồi trong nhà mình, và các trưởng lão ngồi chung quanh người, thì vua sai một sứ giả đi trước mình đến cùng tiên tri. Nhưng khi sứ giả chưa đến, Ê-li-sê nói với các trưởng lão rằng: Kìa, hãy xem, con kẻ sát nhân kia sai người đến đặng cắt đầu ta. Khá coi chừng: vừa khi sứ giả đến, hãy đóng cửa lại, dùng cửa xua đuổi nó đi. Các ngươi há chẳng nghe tiếng bước của chủ nó sau lưng nó sao?

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

32Đang lúc Ê-li-sê ngồi trong nhà với các trưởng lão thì vua sai một người trong đám quần thần đi tìm ông. Nhưng trước khi sứ giả đến, Ê-li-sê nói với các trưởng lão: “Các ông có thấy kẻ sát nhân ấy sai người đến chém đầu tôi không? Hãy xem, vừa khi sứ giả đến, hãy đóng cửa lại và giữ chặt cửa, đừng cho hắn vào. Chẳng phải tiếng bước chân của chủ hắn theo sau hắn đấy sao?”

Bản Dịch 2011 (BD2011)

32Nói xong, vua ra lịnh cho một vệ sĩ đi giết Ê-li-sa.Lúc ấy Ê-li-sa đang ngồi trong nhà, và có các vị trưởng lão ngồi ở đó với ông. Trước khi người vệ sĩ đến nơi, Ê-li-sa nói với các vị trưởng lão, “Quý vị có biết kẻ sát nhân đang sai người đến chém đầu tôi chăng? Khi kẻ ấy đến, xin quý vị cứ đóng chặt cửa lại và không cho hắn vào. Há chẳng phải tiếng chân của chủ hắn đang theo sau hắn sao?”

Bản Dịch Mới (NVB)

32Vua bèn truyền cho một tên quân cận vệ đi giết Ê-li-sê. Khi ấy, Ê-li-sê đang ngồi trong nhà ông. Có các trưởng lão ngồi ở đó với ông. Trước khi tên cận vệ đến nơi, Ê-li-sê nói với các trưởng lão: “Quý vị có biết kẻ sát nhân đang sai người đến chém đầu tôi chăng? Khi kẻ ấy đến, xin quý vị cứ đóng chặt cửa lại và không cho hắn vào. Há chẳng phải là tiếng chân của chủ hắn đang theo sau hắn đó sao?”

Bản Phổ Thông (BPT)

32Vua sai sứ đến Ê-li-sê. Ông đang ngồi trong nhà với các bô lão. Trước khi sứ giả đến, Ê-li-sê bảo họ, “Xem kìa, tên sát nhân đang sai người đến chém đầu tôi. Khi sứ giả đến hãy đóng ập cửa lại đừng cho nó vào. Tiếng của chủ nó ngay sau lưng nó.”

Nau Brah Ndu Ngơi (BBSV)

33Dôl păng hôm e ngơi ndrel ma phung buranh, khân păng saơ bunuyh nây tât. Hađăch ăt tât ndrel, păng lah ma Y-Êlisê pô aơ: "Nau jêr aơ luh tă bơh Yêhôva! Pôri, moh khlay gâp hôm kâp gân ma Yêhôva?"

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

33Người còn đương nói, chúng thấy sứ giả đến. Vua cũng đến, nói với Ê-li-sê rằng: Tai nạn nầy đến bởi Đức Giê-hô-va. Vậy, ta còn trông cậy nơi Đức Giê-hô-va làm chi?

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

33Trong khi Ê-li-sê còn đang nói với họ thì sứ giả đến và nói với ông: “Tai họa nầy đến từ Đức Giê-hô-va. Vậy tại sao ta còn trông đợi Đức Giê-hô-va làm gì nữa?”

Bản Dịch 2011 (BD2011)

33Ðang khi Ê-li-sa còn đang nói với các trưởng lão, vua đến nói với ông, “Này, tai họa nầy là do CHÚA mà ra. Tại sao tôi còn tin cậy CHÚA nữa làm chi?”

Bản Dịch Mới (NVB)

33Đang khi Ê-li-sê còn đang nói với các trưởng lão thì vua đến với ông và nói: “Tai họa nầy là do nơi CHÚA mà ra. Tại sao tôi còn phải trông cậy nơi CHÚA nữa?”

Bản Phổ Thông (BPT)

33Ê-li-sê đang nói với các lãnh tụ thì sứ giả đến. Vua hỏi, “Sự khốn khổ nầy do CHÚA mà đến. Vậy trông đợi Ngài mà làm gì nữa?”

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

23Người bèn bày tiệc lớn cho chúng nó; khi chúng nó đã ăn uống rồi, người tha cho chúng nó đi; chúng nó bèn trở về cùng chủ mình. Từ đó về sau, những toán quân Sy-ri không còn loán đến địa phận Y-sơ-ra-ên nữa.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

23Vậy vua dọn tiệc lớn đãi chúng. Khi chúng ăn uống xong, vua thả chúng trở về với chủ mình. Từ đó, những toán quân A-ram không còn đột kích lãnh thổ Y-sơ-ra-ên nữa.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

23Vậy vua dọn tiệc lớn đãi họ. Sau khi họ ăn và uống rồi, ông cho họ trở về với chủ họ. Vì thế những toán quân A-ram không đi đột kích trong lãnh thổ của I-sơ-ra-ên nữa.

Bản Dịch Mới (NVB)

23Vậy vua dọn tiệc lớn đãi họ. Sau khi họ ăn và uống rồi, vua cho họ trở về cùng chủ của họ. Vì thế những toán quân A-ram không đi đột kích trong lãnh thổ của Y-sơ-ra-ên nữa.

Bản Phổ Thông (BPT)

23Vậy vua làm một tiệc lớn đãi đạo quân A-ram. Sau khi chúng ăn uống xong thì vua cho chúng ra về cùng chủ mình. Từ đó quân lính A-ram không còn dám xâm phạm xứ Ít-ra-en nữa.