So Sánh Bản Dịch(Tối đa 6 bản dịch)


New International Version(NIV)

Bản Truyền Thống 1926(VI1934)

Bản Hiệu Đính Truyền Thống(RVV11)

Bản Dịch 2011(BD2011)

Bản Dịch Mới(NVB)

Bản Phổ Thông(BPT)

New International Version (NIV)

1When Ish-Bosheth son of Saul heard that Abner had died in Hebron, he lost courage, and all Israel became alarmed.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

1Khi con trai của Sau-lơ hay rằng Áp-ne đã thác tại Hếp-rôn, thì sờn lòng rủn chí, và cả Y-sơ-ra-ên đều bối rối.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

1Khi Ích-bô-sết, con của Sau-lơ, nghe tin Áp-ne đã chết tại Hếp-rôn thì bủn rủn tay chân, và cả Y-sơ-ra-ên đều kinh hãi.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

1Khi con trai của Sau-lơ nghe rằng Áp-ne đã chết ở Hếp-rôn, ông ngã lòng, và toàn dân I-sơ-ra-ên đều bối rối.

Bản Dịch Mới (NVB)

1Nghe tin ông Áp-ne chết tại Hếp-rôn, vua Ích-bô-sết, con trai vua Sau-lơ, rủn chí sờn lòng, và toàn dân Y-sơ-ra-ên đều kinh hãi.

Bản Phổ Thông (BPT)

1Khi Ích-bô-sết, con trai Sau-lơ, nghe tin Áp-ne đã chết ở Hếp-rôn thì đâm ra hoảng sơ, cả dân Ít-ra-en cũng thế.

New International Version (NIV)

2Now Saul’s son had two men who were leaders of raiding bands. One was named Baanah and the other Rekab; they were sons of Rimmon the Beerothite from the tribe of Benjamin—Beeroth is considered part of Benjamin,

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

2Vả, con trai của Sau-lơ có hai đội trưởng, một người tên là Ba-a-na, một người tên là Rê-cáp, hai người là con trai của Rim-môn ở Bê-ê-rốt về chi phái Bên-gia-min; --- vì dân Bê-ê-rốt kể như người Bên-gia-min,

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

2Lúc bấy giờ, con của Sau-lơ có hai đội trưởng đội xung kích: một người tên là Ba-a-na, một người tên là Rê-cáp; cả hai đều là con của Rim-môn ở Bê-ê-rốt thuộc bộ tộc Bên-gia-min — Người Bê-ê-rốt được xem như người Bên-gia-min,

Bản Dịch 2011 (BD2011)

2Thuở ấy con trai của Sau-lơ có hai sĩ quan chỉ huy hai toán quân đột kích. Người nầy tên là Ba-a-na, còn người kia tên là Rê-cáp. Hai người ấy là con của Rim-môn, người Bê-ê-rốt, thuộc chi tộc Bên-gia-min, vì người Bê-ê-rốt cùng dòng họ với người Bên-gia-min.

Bản Dịch Mới (NVB)

2Vua Ích-bô-sết, con trai vua Sau-lơ, có hai sĩ quan cầm đầu đội quân du kích. Một người tên là Ba-a-na, và người kia là Rê-cáp. Cả hai đều là con ông Rim-môn, người Bê-ê-rốt, thuộc chi tộc Bên-gia-min, vì thành Bê-ê-rốt được kể là một thành trong địa phận Bên-gia-min.

Bản Phổ Thông (BPT)

2Con trai Sau-lơ có hai người làm chỉ huy trong quân đội của ông. Một người tên Ba-a-na, người kia tên Rê-cáp. Hai người là con của Rim-môn ở Bê-ê-rốt, người Bên-gia-min. Thị trấn Bê-ê-rốt thuộc chi tộc Bên-gia-min.

New International Version (NIV)

3because the people of Beeroth fled to Gittaim and have resided there as foreigners to this day.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

3mặc dầu chúng đã chạy trốn nơi Ghi-tha-im, là nơi chúng ở cho đến ngày nay. ---

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

3vì họ đã trốn đến Ghi-tha-im, và kiều ngụ ở đó cho đến ngày nay —

Bản Dịch 2011 (BD2011)

3Lúc đó người Bê-ê-rốt đã trốn qua Ghi-ta-im, và họ sống tại đó như kiều dân cho đến ngày nay.

Bản Dịch Mới (NVB)

3Dân thành Bê-ê-rốt đã trốn đến thành Ghít-ta-dim và định cư ở đó cho đến ngày nay.

Bản Phổ Thông (BPT)

3Dân Bê-ê-rốt chạy trốn đến Ghít-ta-im, và ngày nay vẫn còn cư ngụ tại đó như ngoại kiều.

New International Version (NIV)

4(Jonathan son of Saul had a son who was lame in both feet. He was five years old when the news about Saul and Jonathan came from Jezreel. His nurse picked him up and fled, but as she hurried to leave, he fell and became disabled. His name was Mephibosheth.)

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

4Giô-na-than, con trai của Sau-lơ, có một con trai bại chân: khi tin Sau-lơ và Giô-na-than thác ở Gít-rê-ên thấu đến, thì nó đã được năm tuổi. Vú nó đem nó chạy trốn; trong cơn lật đật trốn, nó té, nên nỗi nó trở nên què. Tên nó là Mê-phi-bô-sết.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

4Giô-na-than, con của Sau-lơ, có một con trai què cả hai chân. Khi hay tin từ Gít-rê-ên về cái chết của Sau-lơ và Giô-na-than, nó mới được năm tuổi. Người vú nuôi đem nó chạy trốn; trong lúc chị vội vã chạy đi, nó té nên bị què. Tên nó là Mê-phi-bô-sết.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

4Giô-na-than con trai Sau-lơ có một con trai bị què cả hai chân. Số là khi đứa bé được năm tuổi, tin tức từ chiến trường báo về Giê-rê-ên cho biết cả Sau-lơ và Giô-na-than đều đã tử trận. Bà vú của đứa bé liền bồng nó chạy trốn. Trong lúc hấp tấp chạy trốn, đứa bé bị té và bị què cả hai chân. Ðứa bé đó tên là Mê-phi-bô-sết.

Bản Dịch Mới (NVB)

4Ông Giô-na-than, con vua Sau-lơ, có để lại một người con trai bại hai chân, tên là Mơ-phi-bô-sết. Cậu bé được năm tuổi khi có người từ thành Gít-rê-ên về báo tin vua Sau-lơ và ông Giô-na-than tử trận. Chị vú nuôi ẵm cậu chạy trốn. Trong khi hấp tấp chạy trốn, chị đánh rơi cậu, cho nên cậu bị què.

Bản Phổ Thông (BPT)

4Giô-na-than, con Sau-lơ, có một con trai tên Mê-phi-bô-sết, bị què hai chân. Cậu được năm tuổi khi được tin từ Ghít-rê-ên là cả Sau-lơ và Giô-na-than đều đã chết. Người vú nuôi bồng Mê-phi-bô-sết chạy trốn nhưng đang khi hấp tấp chạy làm té cậu cho nên cậu bị què.

New International Version (NIV)

5Now Rekab and Baanah, the sons of Rimmon the Beerothite, set out for the house of Ish-Bosheth, and they arrived there in the heat of the day while he was taking his noonday rest.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

5Hai con trai của Rim-môn ở Bê-ê-rốt, là Rê-cáp và Ba-a-na, trong lúc trời nắng ban ngày, đi đến nhà Ích-bô-sết, người đương nằm nghỉ trưa.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

5Hai con của Rim-môn người Bê-ê-rốt, là Rê-cáp và Ba-a-na đi đến nhà Ích-bô-sết vào ban ngày giữa lúc nắng nhất, trong khi vua đang nằm nghỉ trưa.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

5Hai con trai của Rim-môn người Bê-ê-rốt là Rê-cáp và Ba-a-na ra đi. Họ đến nhà của Ích-bô-sết vào giữa trưa, lúc ông đang nằm trên giường nghỉ trưa.

Bản Dịch Mới (NVB)

5Rê-cáp và Ba-a-na, hai người con của ông Rim-môn người Bê-ê-rốt, lên đường và đến nhà vua Ích-bô-sết vào lúc nóng nực nhất trong ngày. Vua đang nằm ngủ trưa.

Bản Phổ Thông (BPT)

5Rê-cáp và Ba-a-na, con trai Rim-môn, từ Bê-ê-rốt, đến nhà Ích-bô-sết vào buổi xế trưa khi ông đang ngủ.

New International Version (NIV)

6They went into the inner part of the house as if to get some wheat, and they stabbed him in the stomach. Then Rekab and his brother Baanah slipped away.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

6Hai người đi tuốt đến giữa nhà, giả đò lấy lúa mì, rồi đâm bụng Ích-bô-sết; đoạn Rê-cáp và Ba-a-na, anh người, trốn đi.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

6Họ vào tận trong nhà, giả vờ lấy lúa mì, rồi đâm vào bụng Ích-bô-sết. Sau đó, Rê-cáp cùng với anh là Ba-a-na trốn đi.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

6Hai người ấy đến nơi, vào trong nhà, giả vờ như đi lấy lúa mì, rồi đâm vào bụng ông. Sau đó Rê-cáp và Ba-a-na anh ông bỏ trốn.

Bản Dịch Mới (NVB)

6Bà gác cổng đang nhặt sạn cho sạch lúa. Bà ngủ gà ngủ gật rồi ngủ luôn. Rê-cáp và anh là Ba-a-na lẻn vào bên trong nhà.

Bản Phổ Thông (BPT)

6-7Họ đi vào ngay giữa nhà giả bộ lấy lúa mì. Ích-bô-sết lúc đó đang nằm trên giường. Rê-cáp và Ba-a-na đâm vào bụng Ích-bô-sết, giết chết ông, cắt đầu mang đi. Rồi họ trốn và đi suốt đêm qua thung lũng sông Giô-đanh.

New International Version (NIV)

7They had gone into the house while he was lying on the bed in his bedroom. After they stabbed and killed him, they cut off his head. Taking it with them, they traveled all night by way of the Arabah.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

7Vậy, hai người đi vào nhà Ích-bô-sết, trong khi người nằm nghỉ trên giường tại phòng ngủ, đánh giết người; đoạn cắt lấy đầu người, rồi bắt đường đồng bằng mà đi trọn đêm.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

7Lúc họ vào nhà thì vua đang nằm nghỉ trên giường trong phòng ngủ, họ đâm chết và chặt đầu vua. Rồi họ mang đầu vua đi suốt đêm theo đường A-ra-ba.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

7Số là khi hai người vào trong nhà nhằm lúc ông đang nằm trên giường, trong phòng ngủ của ông. Chúng đâm chết ông, cắt đầu ông, rồi mang đầu ông đi suốt đêm, trốn theo ngả của Ðồng Bằng A-ra-ba.

Bản Dịch Mới (NVB)

7Vua đang nằm ngủ trên giường, trong phòng ngủ. Chúng đâm vua chết, rồi chặt đầu vua. Chúng mang đầu vua đi suốt đêm xuyên qua vùng đồng bằng A-ra-ba.

Bản Phổ Thông (BPT)

6-7Họ đi vào ngay giữa nhà giả bộ lấy lúa mì. Ích-bô-sết lúc đó đang nằm trên giường. Rê-cáp và Ba-a-na đâm vào bụng Ích-bô-sết, giết chết ông, cắt đầu mang đi. Rồi họ trốn và đi suốt đêm qua thung lũng sông Giô-đanh.

New International Version (NIV)

8They brought the head of Ish-Bosheth to David at Hebron and said to the king, “Here is the head of Ish-Bosheth son of Saul, your enemy, who tried to kill you. This day the Lord has avenged my lord the king against Saul and his offspring.”

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

8Hai người đem đầu Ích-bô-sết về Hếp-rôn, dâng cho vua Đa-vít, mà rằng: Nầy là đầu của Ích-bô-sết, con trai của Sau-lơ, kẻ thù nghịch vua, vẫn toan hại mạng sống vua; ngày nay Đức Giê-hô-va đã báo thù Sau-lơ và dòng dõi người cho vua, là chúa tôi.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

8Họ đem đầu của Ích-bô-sết về Hếp-rôn, dâng cho vua Đa-vít, và tâu với vua: “Đây là đầu của Ích-bô-sết, con của Sau-lơ, kẻ thù của bệ hạ, vẫn tìm hại mạng sống bệ hạ. Ngày nay, Đức Giê-hô-va đã báo thù Sau-lơ và dòng dõi người cho bệ hạ, là chúa tôi.”

Bản Dịch 2011 (BD2011)

8Hai người ấy mang đầu Ích-bô-sết đến với Ða-vít tại Hếp-rôn và nói, “Ðây là đầu của Ích-bô-sết con trai Sau-lơ, kẻ thù của ngài, kẻ luôn tìm cách tiêu diệt ngài. Ngày nay CHÚA đã báo thù Sau-lơ và dòng dõi ông ấy cho vua, chúa thượng của tôi.”

Bản Dịch Mới (NVB)

8Chúng mang đầu vua Ích-bô-sết đến chầu vua Đa-vít tại Hếp-rôn và tâu: “Đây là đầu của Ích-bô-sết, con vua Sau-lơ, là kẻ thù của bệ hạ, là người tìm hại mạng sống bệ hạ. Ngày hôm nay, CHÚA đã báo thù vua Sau-lơ và dòng dõi vua cho bệ hạ.”

Bản Phổ Thông (BPT)

8Khi đến Hếp-rôn họ dâng đầu cho Đa-vít và bảo vua, “Đây là đầu của Ích-bô-sết, con trai Sau-lơ, kẻ thù của vua. Hắn đã tìm cách giết vua! Ngày nay CHÚA đã báo ứng cho Sau-lơ và con cháu người về những gì người đã làm cho vua.”

New International Version (NIV)

9David answered Rekab and his brother Baanah, the sons of Rimmon the Beerothite, “As surely as the Lord lives, who has delivered me out of every trouble,

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

9Nhưng Đa-vít đáp cùng Rê-cáp và Ba-a-na con trai của Rim-môn ở Bê-ê-rốt, mà rằng: Ta chỉ Đức Giê-hô-va hằng sống, là Đấng đã cứu ta khỏi các hoạn nạn, mà thề rằng:

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

9Nhưng Đa-vít đáp với Rê-cáp và Ba-a-na, các con của Rim-môn người Bê-ê-rốt: “Thật như Đức Giê-hô-va hằng sống, là Đấng đã cứu ta khỏi tất cả các hoạn nạn,

Bản Dịch 2011 (BD2011)

9Ða-vít đáp với Rê-cáp và Ba-a-na anh hắn, tức hai con trai của Rim-môn người Bê-ê-rốt, “Có CHÚA hằng sống, Ðấng đã cứu ta ra khỏi mọi cảnh ngặt nghèo, chứng giám:

Bản Dịch Mới (NVB)

9Nhưng vua Đa-vít đáp lại Rê-cáp và anh là Ba-a-na, hai con trai của ông Rim-môn, người Bê-ê-rốt: “Có CHÚA hằng sống, là Đấng giải cứu ta khỏi mọi cảnh nguy khốn, làm chứng cho ta.

Bản Phổ Thông (BPT)

9Đa-vít trả lời với Rê-cáp và em là Ba-a-na, con trai Rim-môn ở Bê-ê-rốt, “Ta thề trong danh CHÚA hằng sống Đấng đã giải cứu ta khỏi mọi hoạn nạn!

New International Version (NIV)

10when someone told me, ‘Saul is dead,’ and thought he was bringing good news, I seized him and put him to death in Ziklag. That was the reward I gave him for his news!

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

10Ta đã sai bắt kẻ đã đến thuật cho ta hay rằng Sau-lơ đã thác, và tư tưởng rằng mình là một sứ giả đem tin lành; ta đã giết kẻ đó tại Xiếc-lác đặng trả công cho một sự báo tin dường ấy.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

10khi có người đến báo tin cho ta: ‘Kìa! Sau-lơ đã chết,’ và nghĩ rằng mình là một sứ giả đem tin mừng, thì ta đã bắt và giết kẻ đó tại Xiếc-lác, để trả công cho việc báo tin như thế.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

10Khi có kẻ đến báo tin cho ta rằng ‘Nầy, Sau-lơ đã chết,’ vì nghĩ rằng nó đã đem tin mừng, ta đã bắt nó và xử tử nó tại Xích-lắc. Ðó là phần của kẻ đã nghĩ rằng nó sẽ được thưởng khi đem đến ta tin ấy;

Bản Dịch Mới (NVB)

10Người báo cho ta biết tin vua Sau-lơ chết, tưởng rằng mình báo tin mừng, nhưng ta đã truyền bắt và xử tử nó tại Xiếc-lác! Đó là cách ta thưởng nó về tin mừng của nó.

Bản Phổ Thông (BPT)

10Lần đó có người tưởng mang tin mừng đến cho ta khi bảo, ‘Sau-lơ chết rồi!’ Ta bắt và giết nó ở Xiếc-lác. Đó là phần thưởng ta dành cho kẻ mang tin như thế!

New International Version (NIV)

11How much more—when wicked men have killed an innocent man in his own house and on his own bed—should I not now demand his blood from your hand and rid the earth of you!”

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

11Phương chi những kẻ hung ác đã giết một người lành nằm trên giường tại trong nhà mình! Vậy, ta há chẳng nên đòi huyết người lại nơi tay các ngươi, và diệt các ngươi khỏi đất sao?

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

11Huống chi những kẻ hung ác đã giết một người công chính nằm trên giường trong nhà người ấy! Vậy bây giờ, ta lại không đòi máu người từ tay các ngươi, và diệt các ngươi khỏi mặt đất sao?”

Bản Dịch 2011 (BD2011)

11huống chi những kẻ ác đã giết một người ngay lành trong nhà người ấy, ở trên giường người ấy, thì há sẽ được tha sao? Vậy, ta há không đòi máu của người ấy nơi tay các ngươi, mà không trừ khử các ngươi khỏi mặt đất sao?”

Bản Dịch Mới (NVB)

11Huống chi bọn gian ác giết một người vô tội đang ngủ trên giường, ngay trong nhà mình! Ta sẽ đòi máu người đó nơi tay các ngươi, và ta sẽ diệt các ngươi khỏi mặt đất!”

Bản Phổ Thông (BPT)

11Cho nên ta phải xử tử các người gian ác như mấy anh vì đã giết một người vô tội đang khi người đó nằm trên giường trong nhà mình!”

New International Version (NIV)

12So David gave an order to his men, and they killed them. They cut off their hands and feet and hung the bodies by the pool in Hebron. But they took the head of Ish-Bosheth and buried it in Abner’s tomb at Hebron.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

12Đa-vít bèn truyền lịnh các đầy tớ mình giết hai người đó. Chúng chặt tay và chân họ, rồi treo thây gần bên ao Hếp-rôn. Đoạn, chúng lấy đầu của Ích-bô-sết, chôn trong mồ Áp-ne, tại Hếp-rôn.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

12Rồi Đa-vít truyền lệnh cho các đầy tớ mình giết hai người đó; họ chặt cả tay chân chúng, rồi treo xác gần bên hồ Hếp-rôn. Nhưng họ đem đầu của Ích-bô-sết chôn trong mộ của Áp-ne, tại Hếp-rôn.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

12Ða-vít truyền lịnh cho các tôi tớ ông. Họ giết hai tên ấy; chặt tay và chân chúng, rồi treo xác chúng bên ao ở Hếp-rôn. Sau đó họ lấy đầu của Ích-bô-sết đem chôn trong mộ của Áp-ne tại Hếp-rôn.

Bản Dịch Mới (NVB)

12Vua Đa-vít truyền lệnh, quân lính liền giết chúng, chặt cả tay chân và treo chúng lên cạnh hồ nước tại Hếp-rôn. Nhưng đầu vua Ích-bô-sết thì quân lính đem chôn trong mộ của ông Áp-ne tại Hếp-rôn.

Bản Phổ Thông (BPT)

12Vậy Đa-vít ra lệnh cho thuộc hạ giết Rê-cáp và Ba-a-na. Họ chặt tay và chân Rê-cáp và Ba-a-na treo xác chúng trên hồ Hếp-rôn. Rồi họ lấy đầu Ích-bô-sết và chôn trong mộ của Áp-ne ở Hếp-rôn.