So Sánh Bản Dịch(Tối đa 6 bản dịch)


New International Version(NIV)

Bản Truyền Thống 1926(VI1934)

Bản Hiệu Đính Truyền Thống(RVV11)

Bản Dịch 2011(BD2011)

Bản Dịch Mới(NVB)

Bản Phổ Thông(BPT)

New International Version (NIV)

1After the death of Saul, David returned from striking down the Amalekites and stayed in Ziklag two days.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

1Sau khi Sau-lơ thác, và Đa-vít đã thắng dân A-ma-léc trở về rồi, thì ở Xiếc-lác hai ngày.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

1Sau khi Sau-lơ chết, Đa-vít đã thắng người A-ma-léc trở về và ở lại Xiếc-lác hai ngày.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

1Sau khi Sau-lơ qua đời, Ða-vít cũng vừa đánh bại quân A-ma-léc trở về. Ông ở Xích-lắc được hai ngày.

Bản Dịch Mới (NVB)

1Sau khi vua Sau-lơ chết, Đa-vít cũng vừa đánh thắng quân A-ma-léc xong, trở về Xiếc-lác, ở lại đó hai ngày.

Bản Phổ Thông (BPT)

1Thế là Sau-lơ chết. Sau khi đánh bại dân A-ma-léc, Đa-vít trở về Xiếc-lác và ở lại đó hai ngày.

New International Version (NIV)

2On the third day a man arrived from Saul’s camp with his clothes torn and dust on his head. When he came to David, he fell to the ground to pay him honor.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

2Ngày thứ ba, xảy có một người ở dinh Sau-lơ trở về, quần áo rách rưới, đầu đóng bụi, đến trước mặt Đa-vít, sấp mình xuống đất mà lạy.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

2Đến ngày thứ ba, có một người từ trại quân Sau-lơ đến, quần áo rách nát, đầu đầy bụi đất. Khi đến trước mặt Đa-vít, anh ta sấp mình xuống đất mà lạy.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

2Ðến ngày thứ ba, nầy, có một người từ trại quân của Sau-lơ đến, áo quần rách tả tơi, đầu đầy bụi đất. Người ấy đến trước mặt Ða-vít, sấp mình xuống, và sụp lạy.

Bản Dịch Mới (NVB)

2Ngày thứ ba, có một người từ trại quân vua Sau-lơ đến, áo quần xé rách, đầu rắc bụi đất, khi đến gần Đa-vít, người ấy sấp mình xuống đất, vái lạy.

Bản Phổ Thông (BPT)

2Đến ngày thứ ba có một thanh niên từ trại quân Sau-lơ chạy đến Xiếc-lác. Quần áo tả tơi, đầu dính bụi đất, anh sấp mặt xuống đất lạy Đa-vít.

New International Version (NIV)

3“Where have you come from?” David asked him. He answered, “I have escaped from the Israelite camp.”

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

3Đa-vít hỏi người rằng: Người ở đâu đến? Thưa rằng: Tôi ở trại quân Y-sơ-ra-ên thoát khỏi.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

3Đa-vít hỏi người ấy: “Ngươi từ đâu đến?” Người ấy đáp: “Tôi đã trốn thoát từ trại quân Y-sơ-ra-ên.”

Bản Dịch 2011 (BD2011)

3Ða-vít hỏi người ấy, “Ngươi từ đâu đến?”Người ấy đáp, “Tôi vừa từ trại quân I-sơ-ra-ên đến đây.”

Bản Dịch Mới (NVB)

3Đa-vít hỏi: “Anh từ đâu đến?” Anh ta đáp: “Tôi vừa chạy thoát từ trại quân Y-sơ-ra-ên.”

Bản Phổ Thông (BPT)

3Đa-vít hỏi, “Anh ở đâu đến?”Anh trả lời, “Tôi vừa thoát khỏi trại quân Ít-ra-en.”

New International Version (NIV)

4“What happened?” David asked. “Tell me.” “The men fled from the battle,” he replied. “Many of them fell and died. And Saul and his son Jonathan are dead.”

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

4Đa-vít nói: Vậy, việc xảy ra sao? Hãy thuật cho ta. Người thưa: Dân sự đã trốn khỏi chiến trường, và có nhiều người trong họ bị ngã chết; Sau-lơ và Giô-na-than, con trai người, cũng đều chết nữa.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

4Đa-vít nói: “Việc gì đã xảy ra? Hãy thuật lại cho ta.” Người ấy thưa: “Dân chúng đã bỏ chạy khỏi chiến trường, nhiều người đã ngã chết, cả vua Sau-lơ và hoàng tử Giô-na-than cũng chết.”

Bản Dịch 2011 (BD2011)

4Ða-vít hỏi tiếp, “Tình hình ra sao? Hãy nói cho ta biết.”Người ấy đáp, “Dân quân đã bỏ chiến trường chạy trốn. Nhiều người đã ngã xuống và tử trận. Sau-lơ và Giô-na-than con trai ông ấy cũng đã tử trận.”

Bản Dịch Mới (NVB)

4Đa-vít hỏi tiếp: “Tình hình thế nào? Anh thuật cho tôi biết.” Anh ta đáp: “Quân Y-sơ-ra-ên thua chạy khỏi chiến trường, nhiều chiến sĩ đã ngã xuống, ngay cả vua Sau-lơ và Giô-na-than, con vua, cũng đã chết.”

Bản Phổ Thông (BPT)

4Đa-vít hỏi tiếp, “Có chuyện gì vậy? Nói cho ta biết!”Anh đáp, “Dân chúng bỏ chạy khỏi mặt trận, nhiều người trong số họ ngã chết. Sau-lơ và Giô-na-than, con trai ông ta cũng chết nữa.”

New International Version (NIV)

5Then David said to the young man who brought him the report, “How do you know that Saul and his son Jonathan are dead?”

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

5Đa-vít hỏi người trai trẻ đem tin ấy rằng: Làm sao ngươi biết Sau-lơ và con trai người đã chết?

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

5Đa-vít hỏi người thanh niên đưa tin cho ông: “Làm sao ngươi biết Sau-lơ và con trai người đã chết?”

Bản Dịch 2011 (BD2011)

5Ða-vít hỏi thanh niên ấy, “Làm sao ngươi biết rằng Sau-lơ và Giô-na-than con trai ông ấy đã tử trận?”

Bản Dịch Mới (NVB)

5Đa-vít gạn hỏi thanh niên đưa tin: “Sao anh biết vua Sau-lơ và Giô-na-than, con vua, đã chết?”

Bản Phổ Thông (BPT)

5Đa-vít hỏi anh, “Sao anh biết Sau-lơ và Giô-na-than, con trai ông ta chết?”

New International Version (NIV)

6“I happened to be on Mount Gilboa,” the young man said, “and there was Saul, leaning on his spear, with the chariots and their drivers in hot pursuit.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

6Người trai trẻ đem tin ấy thưa rằng: tình cờ tôi đi qua núi Ghinh-bô-a, thấy Sau-lơ nương trên cây giáo mình. Xe và lính kị theo gần kịp người.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

6Người thanh niên đưa tin thưa: “Tình cờ tôi ở trên núi Ghinh-bô-a và thấy vua Sau-lơ đang tựa vào cây giáo mình, trong khi chiến xa và kỵ binh địch bám sát vua.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

6Chàng thanh niên ấy nói với ông, “Tôi tình cờ chạy qua Núi Ghinh-bô-a; tôi thấy Sau-lơ đang đứng đó, dựa vào cây giáo của ông. Các xe chiến mã và các kỵ binh của địch quân đang truy kích ông rất gắt gao.

Bản Dịch Mới (NVB)

6Thanh niên đưa tin đáp: “Tình cờ tôi ở trên núi Ghinh-bô-a, thấy vua Sau-lơ tựa mình trên cây giáo, còn chiến xa và kỵ binh địch thì bám sát theo vua.

Bản Phổ Thông (BPT)

6Thanh niên đó đáp, “Tôi tình cờ đi ngang qua núi Ghinh-bô-a. Tôi thấy Sau-lơ đang đè người trên cây giáo mình. Các quân xa và những người cỡi quân xa của Phi-li-tin đang tiến gần đến Sau-lơ.

New International Version (NIV)

7When he turned around and saw me, he called out to me, and I said, ‘What can I do?’

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

7Người xây lại thấy tôi và gọi tôi. Tôi thưa rằng: Có tôi đây.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

7Người quay lại thấy tôi và gọi. Tôi thưa: ‘Có tôi đây.’

Bản Dịch 2011 (BD2011)

7Khi ông quay lại và thấy tôi, ông gọi tôi. Tôi đáp, ‘Có tôi đây.’

Bản Dịch Mới (NVB)

7Vua quay lại, thấy tôi, và gọi tôi. Tôi thưa: ‘Tâu bệ hạ, có tôi đây.’

Bản Phổ Thông (BPT)

7Khi ông quay nhìn lại thấy tôi thì kêu tôi. Tôi đáp, ‘Dạ có tôi đây!’

New International Version (NIV)

8“He asked me, ‘Who are you?’ “ ‘An Amalekite,’ I answered.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

8Người nói cùng tôi rằng: Ngươi là ai? Tôi thưa: Tôi là dân A-ma-léc.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

8Người hỏi tôi: ‘Ngươi là ai?’ Tôi thưa: ‘Tôi là người A-ma-léc.’

Bản Dịch 2011 (BD2011)

8Ông hỏi, ‘Ngươi là ai?’Tôi đáp, ‘Tôi là một người A-ma-léc.’

Bản Dịch Mới (NVB)

8Vua hỏi tôi: ‘Ngươi là ai?’ Tôi thưa: ‘Tâu bệ hạ, tôi là người A-ma-léc.’

Bản Phổ Thông (BPT)

8Sau-lơ hỏi tôi, ‘Ngươi là ai?’ Tôi đáp, ‘Tôi là người A-ma-léc.’

New International Version (NIV)

9“Then he said to me, ‘Stand here by me and kill me! I’m in the throes of death, but I’m still alive.’

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

9Người bèn tiếp: Hãy lại gần giết ta đi, vì ta bị xây xẩm, nhưng hãy còn sống.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

9Người tiếp: ‘Hãy lại gần giết ta đi, vì ta bị choáng váng, nhưng hãy còn sống.’

Bản Dịch 2011 (BD2011)

9Ông ra lịnh cho tôi, ‘Ngươi hãy lại gần ta và giết ta đi. Ta bị choáng váng mặt mày, dù ta vẫn còn sống.’

Bản Dịch Mới (NVB)

9Vua bảo tôi: ‘Hãy đến gần bên ta và kết liễu đời ta, vì ta bị xây xẩm, dù ta hãy còn tỉnh.’

Bản Phổ Thông (BPT)

9Sau-lơ liền bảo tôi, ‘Hãy đến đây giết ta đi. Ta bị thương nặng lắm; ta gần chết rồi.’

New International Version (NIV)

10“So I stood beside him and killed him, because I knew that after he had fallen he could not survive. And I took the crown that was on his head and the band on his arm and have brought them here to my lord.”

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

10Vậy, tôi đến gần và giết người đi, vì tôi biết người bại trận, không còn sống được. Đoạn, tôi lấy mão triều thiên trên đầu người và vòng vàng nơi cánh tay người, mà đem về đây cho chúa tôi.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

10Vậy, tôi đến gần và giết người đi, vì tôi biết người không thể sống sau khi đã ngã gục. Sau đó, tôi lấy vương miện trên đầu người và vòng đeo tay của người đem về đây cho chúa tôi.”

Bản Dịch 2011 (BD2011)

10Vậy tôi lại gần ông và kết liễu đời ông, vì tôi biết chắc rằng ông sẽ không thể nào sống được sau khi ông ngã xuống. Sau đó, tôi lấy chiếc vương miện trên đầu ông và chiếc vòng đeo tay của ông đem về đây cho ngài.”

Bản Dịch Mới (NVB)

10Tôi biết vua không thể nào sống nổi sau khi ngã vì trọng thương nên tôi đến gần bên vua và kết liễu đời vua. Kế đến, tôi gỡ vương miện khỏi đầu vua và vòng đeo tay ra khỏi tay vua, mang đến đây cho chúa tôi.”

Bản Phổ Thông (BPT)

10Cho nên tôi bước lại giết ông ta. Ông ta bị thương nặng lắm và tôi biết không thể nào sống nổi. Cho nên tôi lấy cái mão triều trên đầu ông ta và cái vòng đeo tay mang đến đây dâng cho ngài, chủ tôi.”

New International Version (NIV)

11Then David and all the men with him took hold of their clothes and tore them.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

11Đa-vít bèn xé quần áo mình; hết thảy những người đi theo cũng đều làm như vậy.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

11Đa-vít nắm lấy áo mình xé ra; tất cả những người ở với ông cũng làm như vậy.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

11Ða-vít nắm lấy áo ông mà xé ra; những người theo ông cũng làm vậy.

Bản Dịch Mới (NVB)

11Đa-vít liền nắm áo mình xé rách ra. Tất cả những người ở với chàng cũng làm y như vậy.

Bản Phổ Thông (BPT)

11Đa-vít nghe vậy liền xé quần áo bày tỏ lòng đau buồn. Những người theo ông cũng làm như thế.

New International Version (NIV)

12They mourned and wept and fasted till evening for Saul and his son Jonathan, and for the army of the Lord and for the nation of Israel, because they had fallen by the sword.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

12Kế ấy chúng để tang, khóc lóc, và nhịn đói cho đến chiều tối vì Sau-lơ, vì Giô-na-than, con trai người, vì dân sự của Đức Giê-hô-va, và vì nhà Y-sơ-ra-ên, bởi chúng đã bị gươm ngã chết.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

12Họ than vãn, khóc lóc, và kiêng ăn cho đến chiều tối vì Sau-lơ và Giô-na-than, con trai người, vì dân của Đức Giê-hô-va và nhà Y-sơ-ra-ên, vì những người đã ngã chết bởi gươm.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

12Họ than thở, khóc lóc, và kiêng ăn đến chiều tối để thương tiếc Sau-lơ, Giô-na-than con trai ông ấy, dân quân của CHÚA, và nhà I-sơ-ra-ên, bởi vì họ đã bị ngã gục dưới lưỡi gươm.

Bản Dịch Mới (NVB)

12Họ đấm ngực than khóc và kiêng ăn cho đến chiều để tỏ lòng thương tiếc vua Sau-lơ, và Giô-na-than, con vua, và đội quân của CHÚA và nhà Y-sơ-ra-ên, vì những người này đã ngã xuống ngoài trận địa.

Bản Phổ Thông (BPT)

12Họ vô cùng buồn bã, than khóc và không ăn uống gì cho đến chiều tối. Họ than khóc cho Sau-lơ và Giô-na-than, con trai ông và cho đạo quân Ít-ra-en vì họ đã chết trong chiến trận.

New International Version (NIV)

13David said to the young man who brought him the report, “Where are you from?” “I am the son of a foreigner, an Amalekite,” he answered.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

13Đa-vít hỏi người trai trẻ đem tin nầy rằng: Ngươi ở đâu đến? Người thưa rằng: Tôi là con trai của một người ngoại bang, tức con của một người A-ma-léc.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

13Đa-vít hỏi người thanh niên đưa tin: “Ngươi từ đâu đến?” Người ấy đáp: “Tôi là con của một người ngoại bang, dân A-ma-léc.”

Bản Dịch 2011 (BD2011)

13Sau đó Ða-vít hỏi chàng thanh niên đã đến báo tin, “Ngươi từ đâu đến?”Người ấy đáp, “Tôi là con của một kiều dân, một người A-ma-léc.”

Bản Dịch Mới (NVB)

13Sau đó, Đa-vít hỏi thanh niên đưa tin: “Anh gốc gác ở đâu?” Anh ta đáp: “Tôi là con một người A-ma-léc định cư trong xứ này.”

Bản Phổ Thông (BPT)

13Đa-vít hỏi chàng thanh niên mang tin đó, “Anh ở đâu tới?”Chàng thanh niên đáp, “Tôi là con của một người ngoại quốc, người A-ma-léc.”

New International Version (NIV)

14David asked him, “Why weren’t you afraid to lift your hand to destroy the Lord’s anointed?”

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

14Đa-vít nói rằng: Cớ sao ngươi không sợ giơ tay lên giết kẻ chịu xức dầu của Đức Giê-hô-va?

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

14Đa-vít nói: “Ngươi không sợ khi ra tay giết người được xức dầu của Đức Giê-hô-va sao?”

Bản Dịch 2011 (BD2011)

14Ða-vít nói với hắn, “Ngươi không sợ đưa tay ra giết người được CHÚA xức dầu sao?”

Bản Dịch Mới (NVB)

14Đa-vít quát lên: “Sao ngươi không sợ mà dám tra tay giết vị vua được CHÚA xức dầu?”

Bản Phổ Thông (BPT)

14Đa-vít hỏi hắn, “Sao anh dám cả gan giết vua mà CHÚA đã bổ nhiệm?”

New International Version (NIV)

15Then David called one of his men and said, “Go, strike him down!” So he struck him down, and he died.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

15-

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

15Rồi Đa-vít gọi một thuộc hạ trẻ tuổi và bảo: “Hãy lại gần, đánh chết hắn đi!” Người ấy đánh hắn, và hắn chết.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

15Ðoạn Ða-vít nói với một người trẻ đang theo ông, “Hãy lại gần, giết hắn đi.”Người ấy lại gần, đâm hắn, và hắn chết.

Bản Dịch Mới (NVB)

15Đa-vít gọi một trong các thuộc hạ và bảo: “Hãy đến, giết nó đi!” Trong khi người này đánh anh ta chết,

Bản Phổ Thông (BPT)

15Rồi Đa-vít bảo một trong những người của ông, “Hãy giết tên A-ma-léc nầy đi!” Vì thế một người của Đa-vít liền giết hắn.

New International Version (NIV)

16For David had said to him, “Your blood be on your own head. Your own mouth testified against you when you said, ‘I killed the Lord’s anointed.’ ”

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

16Huyết ngươi đổ lại trên đầu ngươi! Miệng ngươi đã làm chứng về ngươi, vì ngươi đã nói rằng: Chính tôi đã giết đấng chịu xức dầu của Đức Giê-hô-va. Đoạn, Đa-vít gọi một người trai trẻ mà nói rằng: Hãy lại gần, xông đánh hắn! Người ấy đánh hắn, và hắn chết.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

16Đa-vít nói với người ấy: “Máu ngươi đổ lại trên đầu ngươi! Chính miệng ngươi đã cáo tội ngươi, vì ngươi đã nói rằng: ‘Chính tôi đã giết người được xức dầu của Đức Giê-hô-va.’”

Bản Dịch 2011 (BD2011)

16Ðoạn Ða-vít nói, “Máu của ngươi đã đổ lại trên đầu ngươi, vì chính miệng ngươi đã làm chứng nghịch lại ngươi rằng, ‘Tôi đã giết người được CHÚA xức dầu.’”

Bản Dịch Mới (NVB)

16Đa-vít nói: “Máu ngươi đổ lại trên đầu ngươi, vì chính miệng ngươi làm chứng chống lại ngươi khi ngươi nói: ‘Chính tôi đã kết liễu đời vị vua được CHÚA xức dầu.’ ”

Bản Phổ Thông (BPT)

16Đa-vít đã bảo người A-ma-léc, “Anh phải chịu trách nhiệm về cái chết của mình. Chính anh đã khai ra rằng, ‘Tôi đã giết vua được CHÚA bổ nhiệm.’”

New International Version (NIV)

17David took up this lament concerning Saul and his son Jonathan,

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

17Bây giờ, Đa-vít làm bài ai ca nầy về Sau-lơ và Giô-na-than, con trai Sau-lơ,

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

17Bấy giờ, Đa-vít làm bài ai ca để khóc Sau-lơ và Giô-na-than, con trai Sau-lơ,

Bản Dịch 2011 (BD2011)

17Bấy giờ Ða-vít ngâm lên bài ai ca nầy để khóc cho Sau-lơ và Giô-na-than con trai ông ấy.

Bản Dịch Mới (NVB)

17Bấy giờ Đa-vít ngâm bài điếu ca này khóc vua Sau-lơ và hoàng tử Giô-na-than.

Bản Phổ Thông (BPT)

17Đa-vít hát một bài ai ca cho Sau-lơ và Giô-na-than, con trai ông,

New International Version (NIV)

18and he ordered that the people of Judah be taught this lament of the bow (it is written in the Book of Jashar):

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

18mà truyền dạy cho các con trẻ Giu-đa: Ấy là bài ai ca về Cung, chép trong sách kẻ công bình:

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

18mà truyền dạy cho con dân Giu-đa: Đây là bài ca Cây Cung, được chép trong sách Gia-sa:

Bản Dịch 2011 (BD2011)

18Ông bảo họ hãy dạy cho trẻ con ở Giu-đa bài hát theo điệu Cây Cung nầy. Thật vậy, bài hát ấy đã được ghi lại trong Sách của Người Công Chính.

Bản Dịch Mới (NVB)

18Đa-vít truyền dạy cho dân Giu-đa bài điếu ca Cây Cung được ghi chép trong sách Người Công Chính:

Bản Phổ Thông (BPT)

18và ra lệnh dạy cho tất cả dân Giu-đa bài hát nầy. Bài đó được gọi là “Cái cung,” và được chép trong sách Gia-xa:

New International Version (NIV)

19“A gazelle lies slain on your heights, Israel. How the mighty have fallen!

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

19Ôi Y-sơ-ra-ên! Kẻ danh vọng của ngươi đã thác trên gò nổng ngươi! Nhân sao các kẻ anh hùng nầy bị ngã chết?

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

19“Hỡi Y-sơ-ra-ên! Kẻ danh vọng của ngươi đã bị giết trên các đồi cao!Ôi sao các anh hùng nầy lại gục ngã!

Bản Dịch 2011 (BD2011)

19“Than ôi, hỡi I-sơ-ra-ên,Trên các núi đồi của ngươi,Những đứa con ưu tú đã bỏ mình!Những anh hùng đã gục ngã!

Bản Dịch Mới (NVB)

19Ôi, Y-sơ-ra-ên, vinh quang ngươi, ngã chết trên đồi! Than ôi, dũng sĩ nay ngã gục!

Bản Phổ Thông (BPT)

19“Hỡi Ít-ra-en, các lãnh tụ ngươi đã bị giết trên đồi.Các dũng sĩ đã ngã chết trong chiến trận!

New International Version (NIV)

20“Tell it not in Gath, proclaim it not in the streets of Ashkelon, lest the daughters of the Philistines be glad, lest the daughters of the uncircumcised rejoice.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

20Chớ đi tuyên cáo điều đó trong Gát, Chớ rao truyền sự ấy trong các đường phố Ách-ca-lôn, E các con gái Phi-li-tin vui vẻ, Và các con gái kẻ không chịu cắt bì mừng rỡ chăng?

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

20Đừng loan tin nầy ở Gát,Chớ rao truyền trong các đường phố Ách-ca-lôn,Kẻo các con gái Phi-li-tin vui vẻ,Và bọn con gái kẻ không cắt bì mừng rỡ chăng!

Bản Dịch 2011 (BD2011)

20Ðừng nói cho dân ở Gát biết;Ðừng ai báo tin nầy trong các đường phố ở Ách-kê-lôn,Kẻo các con gái của người Phi-li-tin sẽ ăn mừng,Kẻo các con gái của những kẻ không được cắt bì sẽ hớn hở.

Bản Dịch Mới (NVB)

20Đừng rao tin này trong thành Gát, Đừng loan tin ra trong các đường phố Ách-ca-lôn, Kẻo các cô gái dân Phi-li-tin vui mừng, Kẻo các cô gái dân không cắt bì hớn hở!

Bản Phổ Thông (BPT)

20Chớ loan tin nầy trong Gát.Đừng báo tin đó trong các đường phố Ách-kê-lôn.Nếu không, các đàn bà Phi-li-tin sẽ vui mừng.Các con gái của bọn không chịu cắt dương bì sẽ hớn hở.

New International Version (NIV)

21“Mountains of Gilboa, may you have neither dew nor rain, may no showers fall on your terraced fields.For there the shield of the mighty was despised, the shield of Saul—no longer rubbed with oil.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

21Hỡi núi Ghinh-bô-a! Nguyện sương móc và mưa chẳng sa xuống trên ngươi, Và chẳng có đồng ruộng sanh sản vật dùng làm của lễ đầu mùa; Vì tại nơi đó, cái khiên của anh hùng bị nhơ nhuốc, Tức là cái khiên của Sau-lơ, nó sẽ chẳng hề được xức dầu nữa.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

21Hỡi các núi Ghinh-bô-a!Nguyện sương móc và mưa chẳng sa xuống trên ngươi,Và đồng ruộng chẳng sinh ngũ cốc để làm tế lễ;Vì ở đó, cái khiên của anh hùng bị nhem nhuốc,Tức là cái khiên của Sau-lơ, sẽ không còn được xoa dầu nữa.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

21Hỡi các đỉnh núi Ghinh-bô-a,Ước chi từ nay sương và mưa sẽ không rơi xuống trên các ngươi nữa,Những cánh đồng của các ngươi sẽ không được phì nhiêu nữa,Vì khiên của người anh hùng đã phải quăng ở đó,Tức khiên của Sau-lơ không còn được thoa dầu.

Bản Dịch Mới (NVB)

21Ôi, đồi núi Ghinh-bô-a, Ước gì sương móc không còn sa, mưa cũng chẳng rơi trên các ngươi nữa! Ước gì các ngươi không còn đồng ruộng phì nhiêu nữa! Vì nơi đó, thuẫn khiên các dũng sĩ bị vứt bỏ, Thuẫn khiên vua Sau-lơ không còn ai chùi dầu cho bóng nữa!

Bản Phổ Thông (BPT)

21Nguyền cho sương và mưa mớiđừng rơi trên núi Ghinh-bô-a,và đồng ruộng nó đừng mọc thóc lúa,vì đó là nơi khiên của dũng sĩ bị dơ bẩn.Cái khiên của Sau-lơ không cònđược đánh dầu bóng nữa.

New International Version (NIV)

22“From the blood of the slain, from the flesh of the mighty, the bow of Jonathan did not turn back, the sword of Saul did not return unsatisfied.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

22Cây cung của Giô-na-than chẳng hề trở về Mà không dính đầy huyết kẻ chết, và mỡ của người dõng sĩ; Cây gươm của Sau-lơ không hề trở về mà không vinh quang.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

22Cung của Giô-na-thanChẳng quay về mà không dính đầy máu kẻ chết,Và mỡ của những dũng sĩ;Gươm của Sau-lơ cũng chẳng trở về không.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

22Mũi tên từ cây cung của Giô-na-than không bao giờ trở về mà không vấy máu quân thù;Thanh gươm của Sau-lơ không bao giờ tra vào vỏ sạch trơn mà không dính mỡ dũng sĩ của quân thù.

Bản Dịch Mới (NVB)

22Cây cung của Giô-na-than không hề rút về, Mà không vấy máu kẻ thương vong; Cây gươm của vua Sau-lơ không hề trở về vô hiệu, Nhưng lúc nào cũng dính mỡ các chiến sĩ.

Bản Phổ Thông (BPT)

22Cung của Giô-na-than giết nhiều chiến sĩ,Gươm của Sau-lơ cũng là nhiều dũng sĩ bị thương tích.

New International Version (NIV)

23Saul and Jonathan— in life they were loved and admired, and in death they were not parted. They were swifter than eagles, they were stronger than lions.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

23Khi còn sống, Sau-lơ và Giô-na-than yêu nhau đẹp nhau, Lúc chết chẳng bị lìa khỏi nhau: Hai người vốn lẹ hơn chim ưng, Mạnh hơn con sư tử!

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

23Sau-lơ và Giô-na-than thương yêu nhau thắm thiết,Khi sống, lúc chết cũng chẳng rời nhau:Họ nhanh hơn chim ưng,Mạnh hơn sư tử!

Bản Dịch 2011 (BD2011)

23Ôi Sau-lơ và Giô-na-than,Những con người đáng yêu và đáng mến;Khi sống họ chẳng xa nhau, khi chết họ cũng chẳng rời nhau.Họ nhanh nhẹn hơn cả chim phượng hoàng;Họ mạnh mẽ hơn bầy sư tử.

Bản Dịch Mới (NVB)

23Ôi, vua Sau-lơ và Giô-na-than, thật đáng yêu, đáng quý! Khi sống cũng như lúc chết, Cha con chẳng hề lìa nhau! Họ nhanh hơn chim đại bàng, Dũng mãnh hơn sư tử!

Bản Phổ Thông (BPT)

23Chúng ta yêu Sau-lơ và Giô-na-thanvà ưa thích họ khi họ còn sống.Họ chết chung với nhau.Họ nhanh hơn chim ưng.Mạnh hơn sư tử.

New International Version (NIV)

24“Daughters of Israel, weep for Saul, who clothed you in scarlet and finery, who adorned your garments with ornaments of gold.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

24Hỡi con gái Y-sơ-ra-ên, hãy khóc về Sau-lơ, Người đã mặc cho các ngươi áo xống màu đỏ điều xa xỉ, Trau giồi áo xống các ngươi bằng đồ vàng

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

24Hỡi các thiếu nữ Y-sơ-ra-ên, hãy khóc thương Sau-lơ!Người đã mặc cho các cô áo điều lộng lẫy,Cài trên áo các cô đồ trang sức bằng vàng.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

24Hỡi các phụ nữ I-sơ-ra-ên,Hãy khóc cho Sau-lơ;Ông đã mặc cho các người vải điều sang trọng;Ông đã máng vào y phục các người những đồ trang sức bằng vàng.

Bản Dịch Mới (NVB)

24Hỡi các cô gái Y-sơ-ra-ên, Hãy thương khóc vua Sau-lơ! Vua đã cho các cô mặc vải điều sang trọng, Cài trang sức vàng trên áo các cô!

Bản Phổ Thông (BPT)

24Các con gái Ít-ra-en ơi, hãy than khóc cho Sau-lơ.Sau-lơ đã khoác áo đỏ cho các ngươi,và trang sức các ngươi bằng vàng.

New International Version (NIV)

25“How the mighty have fallen in battle! Jonathan lies slain on your heights.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

25Cớ sao người dõng sĩ ngã giữa cơn trận? Nhân sao Giô-na-than thác trên gò nổng các ngươi?

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

25Ôi, sao những dũng sĩPhải gục ngã giữa chiến trận!Giô-na-than bị giết chết trên các đồi cao.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

25Than ôi, những anh hùng đã ngã gục nơi chiến trường,Trên đỉnh đồi cao Giô-na-than đã tử trận.

Bản Dịch Mới (NVB)

25Than ôi, dũng sĩ nay ngã gục giữa chiến trận! Giô-na-than ngã chết trên đồi!

Bản Phổ Thông (BPT)

25Các dũng sĩ đã ngã chết trong chiến trận!Giô-na-than đã chết trên đồi Ghinh-bô-a!

New International Version (NIV)

26I grieve for you, Jonathan my brother; you were very dear to me. Your love for me was wonderful, more wonderful than that of women.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

26Hỡi Giô-na-than, anh tôi! Lòng tôi quặn thắt vì anh. Anh làm cho tôi khoái dạ; Nghĩa bầu bạn của anh lấy làm quí hơn tình thương người nữ.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

26Giô-na-than, anh tôi ơi! Lòng tôi quặn thắt vì anh.Anh làm cho tôi thỏa dạ;Tình yêu của anh đối với tôi thật diệu kỳ,Hơn cả tình yêu người nữ.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

26Giô-na-than anh hỡi, lòng tôi chết điếng vì anh;Tôi thương mến anh biết bao;Tình thương anh dành cho tôi thật quá tuyệt vời,Còn hơn cả tình yêu của người nữ yêu tôi.

Bản Dịch Mới (NVB)

26Anh Giô-na-than ơi! Vì anh, lòng tôi đau như cắt! Tôi quý mến anh vô cùng! Tình bạn của anh đối với tôi thật tuyệt vời, Hơn hẳn tình yêu của phụ nữ.

Bản Phổ Thông (BPT)

26Anh Giô-na-than ơi! Tôi than khóc cho anh.Tôi yêu thích anh lắm.Tình yêu của anh dành cho tôi thật tuyệt diệu,hơn cả tình yêu người nữ.

New International Version (NIV)

27“How the mighty have fallen! The weapons of war have perished!”

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

27Cớ sao những anh hùng bị ngã xuống? Nhân sao các binh khí họ bị bẻ gãy?

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

27Ôi, sao những anh hùng ngã xuống,Và vũ khí của họ thành vô dụng, bỏ đi!”

Bản Dịch 2011 (BD2011)

27Than ôi, những anh hùng đã ngã gục;Các vũ khí chiến tranh giờ đã tan tành!”

Bản Dịch Mới (NVB)

27Than ôi, dũng sĩ nay ngã gục! Vũ khí chiến tranh nay tan tành!

Bản Phổ Thông (BPT)

27Các dũng sĩ đã ngã chết rồi!Vũ khí chiến tranh không còn nữa.”