So Sánh Bản Dịch(Tối đa 6 bản dịch)


Klei Aê Diê Blŭ(RRB)

Bản Truyền Thống 1926(VI1934)

Bản Hiệu Đính Truyền Thống(RVV11)

Bản Dịch 2011(BD2011)

Bản Dịch Mới(NVB)

Bản Phổ Thông(BPT)

Klei Aê Diê Blŭ (RRB)

1Y-Salômôn ngă klei bi mguôp ung mô̆ hŏng Pharaôn mtao čar Êjip. Ñu mă anak mniê Pharaôn leh anăn atăt ba gơ̆ kơ ƀuôn Y-Đawit tơl ñu bi leh mdơ̆ng sang ñu pô leh anăn sang Yêhôwa leh anăn mnư̆ jŭm dar ƀuôn Yêrusalem.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

1Sa-lô-môn kết thân với Pha-ra-ôn, vua Ê-díp-tô, cưới con gái người, rước nàng về thành Đa-vít, đợi xây cất xong cung điện riêng mình, đền của Đức Giê-hô-va, và tường thành chung quanh Giê-ru-sa-lem.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

1Sa-lô-môn kết thân với Pha-ra-ôn, vua Ai Cập, và cưới con gái của Pha-ra-ôn. Vua đưa nàng về ở thành Đa-vít cho đến khi hoàn thành việc xây cất cung điện cho mình, đền thờ của Đức Giê-hô-va, và tường thành chung quanh Giê-ru-sa-lem.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

1Sa-lô-môn kết đồng minh với Pha-ra-ôn vua Ai-cập. Ông cưới con gái của Pha-ra-ôn, rồi đưa nàng về Thành Ða-vít, cho đến khi ông hoàn thành công trình xây cất cung điện cho ông, Ðền Thờ cho CHÚA, và tường thành bao quanh Giê-ru-sa-lem.

Bản Dịch Mới (NVB)

1Sa-lô-môn kết đồng minh với Pha-ra-ôn, vua Ai-cập. Vua cưới công chúa của Pha-ra-ôn rồi đưa nàng về thành Đa-vít, cho đến khi vua hoàn thành công trình xây cất cung điện cho mình, Đền Thờ cho Chúa, và tường thành bao quanh Giê-ru-sa-lem.

Bản Phổ Thông (BPT)

1Sô-lô-môn kết ước với vua Ai-cập bằng cách cưới con gái vua ấy và mang nàng về Giê-ru-sa-lem. Lúc đó Sô-lô-môn đang xây cung điện và đền thờ của CHÚA, cũng như vách bao quanh thành Đa-vít.

Klei Aê Diê Blŭ (RRB)

2Ƀiădah phung ƀuôn sang dôk ngă yang ti anôk dlông, kyuadah ka arăng mdơ̆ng sang ôh kơ anăn Yêhôwa.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

2Dân sự hãy còn dâng của lễ trên các nơi cao, vì cho đến bấy giờ chưa có xây cất đền nào cho danh Đức Giê-hô-va.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

2Tuy nhiên, dân chúng vẫn còn dâng sinh tế trên các nơi cao, vì cho đến bấy giờ chưa có đền thờ nào được xây cất cho danh Đức Giê-hô-va.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

2Tuy nhiên, dân chúng vẫn còn dâng tế lễ trên các tế đàn ở các nơi cao, vì đến bấy giờ ông chưa xây Ðền Thờ cho danh CHÚA.

Bản Dịch Mới (NVB)

2Tuy nhiên dân chúng vẫn còn dâng tế lễ trong các đền miếu trên những nơi cao, vì đến bấy giờ vua vẫn chưa xây được Đền Thờ cho danh Chúa.

Bản Phổ Thông (BPT)

2Đền thờ để thờ kính CHÚA chưa cất xong, cho nên dân chúng vẫn còn dâng tế lễ ở những nơi thờ phụng.

Klei Aê Diê Blŭ (RRB)

3Y-Salômôn khăp kơ Yêhôwa, êbat hlăm klei bhiăn Y-Đawit ama ñu; ƀiădah ñu ngă yang leh anăn čuh mnơ̆ng ƀâo mngưi ti anôk dlông.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

3Sa-lô-môn kính mến Đức Giê-hô-va, và đi theo các luật lệ của Đa-vít, cha mình; song người dâng của lễ và xông hương tại trên nơi cao.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

3Sa-lô-môn kính yêu Đức Giê-hô-va nên bước đi theo các luật lệ của Đa-vít, cha mình. Tuy nhiên, vua vẫn còn dâng sinh tế và đốt hương trên các nơi cao.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

3Sa-lô-môn kính mến CHÚA, bước đi theo những huấn lệnh của Ða-vít cha ông, ngoại trừ ông vẫn còn dâng tế lễ và dâng hương trong các tế đàn trên các nơi cao.

Bản Dịch Mới (NVB)

3Sa-lô-môn kính mến Chúa, bước đi theo những huấn lệnh của Đa-vít, thân phụ vua, ngoại trừ vua vẫn còn dâng tế lễ và đốt hương trong các đền miếu trên những nơi cao.

Bản Phổ Thông (BPT)

3Sô-lô-môn chứng tỏ ông yêu mến CHÚA bằng cách vâng theo những mệnh lệnh mà cha mình là Đa-vít đã truyền lại, ngoại trừ những nơi thờ phụng mà dân chúng vẫn dùng để dâng của lễ và đốt hương.

Klei Aê Diê Blŭ (RRB)

4Mtao nao ti ƀuôn Gabaôn čiăng ngă yang tinăn, kyuadah tinăn jing anôk dlông yuôm hĭn. Y-Salômôn khăng myơr ti dlông knưl anăn sa êbâo mnơ̆ng myơr čuh.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

4Vua đi đến Ga-ba-ôn đặng dâng của lễ tại đó, vì nơi cao ấy là trọng nhứt; trên bàn thờ đó Sa-lô-môn dâng một ngàn con sinh làm của lễ thiêu.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

4Vua đi đến Ga-ba-ôn để dâng sinh tế tại đó vì ấy là nơi cao quan trọng nhất. Trên bàn thờ đó, Sa-lô-môn dâng một nghìn sinh tế làm tế lễ thiêu.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

4Vua đi đến Ghi-bê-ôn để dâng tế lễ, vì đó là chỗ thờ phượng trên nơi cao quan trọng nhất. Tại đó Sa-lô-môn dâng trên bàn thờ một ngàn của lễ thiêu.

Bản Dịch Mới (NVB)

4Vua đi đến Ga-ba-ôn để dâng tế lễ, vì đó là ngôi đền trên nơi cao quan trọng nhất. Tại đó Sa-lô-môn dâng trên bàn thờ một ngàn sinh tế làm của lễ thiêu.

Bản Phổ Thông (BPT)

4Vua Sô-lô-môn đi đến Ghi-bê-ôn để dâng của lễ, vì đó là nơi thờ phụng quan trọng nhất. Ông dâng một ngàn của lễ trên bàn thờ đó.

Klei Aê Diê Blŭ (RRB)

5Ti ƀuôn Gabaôn Yêhôwa bi êdah ñu pô kơ Y-Salômôn hlăm klei êpei êjai mlam; leh anăn Aê Diê lač, “Akâo bĕ ya kâo srăng brei kơ ih.”

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

5Tại Ga-ba-ôn, lúc ban đêm, Đức Giê-hô-va hiện đến cùng Sa-lô-môn trong cơn chiêm bao, và phán với người rằng: Hãy xin điều gì ngươi muốn ta ban cho ngươi.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

5Tại Ga-ba-ôn, Đức Giê-hô-va hiện ra với Sa-lô-môn trong giấc chiêm bao ban đêm; Đức Chúa Trời phán: “Hãy xin điều gì con muốn Ta ban cho con.”

Bản Dịch 2011 (BD2011)

5Tại Ghi-bê-ôn, ban đêm CHÚA hiện ra cùng Sa-lô-môn trong giấc chiêm bao, Ðức Chúa Trời phán rằng, “Hãy cầu xin Ta bất cứ điều gì ngươi muốn, Ta sẽ ban cho.”

Bản Dịch Mới (NVB)

5Tại Ga-ba-ôn, ban đêm Chúa hiện ra cùng Sa-lô-môn trong một giấc chiêm bao, Đức Chúa Trời phán rằng: “Hãy cầu xin Ta bất cứ điều gì ngươi muốn, Ta sẽ ban cho.”

Bản Phổ Thông (BPT)

5Trong khi đang ở Ghi-bê-ôn CHÚA hiện ra cùng ông trong một giấc mộng và hỏi, “Hãy xin bất cứ điều gì ngươi muốn ta ban cho.”

Klei Aê Diê Blŭ (RRB)

6Y-Salômôn lač, “Ih bi êdah leh klei khăp prŏng leh anăn sĭt suôr kơ dĭng buăl ih Y-Đawit ama kâo, kyuadah ñu êbat ti anăp ih hŏng klei sĭt suôr, hŏng klei kpă ênô, leh anăn hŏng klei ênuah ai tiê ti anăp ih. Leh anăn ih djă pioh leh kơ ñu klei khăp prŏng anei leh anăn brei leh kơ ñu sa čô anak êkei dôk gŭ ti jhưng mtao ñu hruê anei.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

6Sa-lô-môn thưa rằng: Chúa đã lấy ơn lớn đãi kẻ tôi tớ Chúa, là Đa-vít, cha tôi, theo như người lấy sự trung tín, sự công bình và lòng ngay trọn vẹn mà đi trước mặt Đức Giê-hô-va; lại Chúa có giữ ơn lớn ấy cho người, mà ban cho người một con trai ngồi trên ngai của người, y như đã có ngày nay.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

6Sa-lô-môn thưa: “Chúa đã bày tỏ lòng nhân từ lớn lao đối với đầy tớ Ngài là Đa-vít, thân phụ con, như người đã bước đi trước mặt Ngài trong sự trung tín, công chính và tấm lòng ngay thẳng. Chúa lại tiếp tục bày tỏ lòng nhân từ lớn lao ấy cho người, khi ban cho người một con trai ngồi trên ngai của người như đã có ngày nay.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

6Sa-lô-môn thưa, “Ngài đã lấy lòng nhân từ mà đối xử với tôi tớ Ngài là Ða-vít cha con, vì cha con đã hết lòng bước đi cách trung thành, ngay lành, và chính trực trước mặt Ngài. Ngài lại tiếp tục bày tỏ lòng nhân từ lớn lao ấy đối với cha con mà ban cho cha con một con trai để ngồi trên ngai của cha con cho đến ngày nay.

Bản Dịch Mới (NVB)

6Sa-lô-môn thưa: “Ngài đã lấy lòng nhân từ đối cùng tôi tớ Ngài là Đa-vít, cha con, vì cha con đã hết lòng bước đi cách trung thành, ngay lành, và trung chính trước mặt Ngài. Ngài lại tiếp tục bày tỏ lòng nhân từ lớn lao ấy đối với cha con mà ban cho cha con một con trai để ngồi trên ngai của cha con cho đến ngày nay.

Bản Phổ Thông (BPT)

6Sô-lô-môn thưa, “CHÚA đã rất nhân từ cùng Đa-vít, cha của con, kẻ tôi tớ Ngài. Cha của con đã vâng lời Ngài, làm điều ngay thẳng và sống phải lẽ. Ngài cũng đã tỏ lòng nhân từ lớn lao đối với người khi CHÚA cho con người lên ngôi kế vị người.

Klei Aê Diê Blŭ (RRB)

7Ară anei, Ơ Yêhôwa Aê Diê kâo, ih brei leh dĭng buăl ih jing mtao čuê Y-Đawit ama kâo, wăt tơdah kâo knŏng jing sa čô hđeh điêt; kâo amâo thâo ôh si srăng kbiă amâodah mŭt.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

7Giê-hô-va Đức Chúa Trời tôi ôi! Bây giờ Chúa đã khiến kẻ tôi tớ Chúa trị vì kế Đa-vít, là cha tôi; nhưng tôi chỉ là một đứa trẻ nhỏ chẳng biết phải ra vào làm sao.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

7Bây giờ, lạy Giê-hô-va là Đức Chúa Trời của con, chính Chúa đã khiến đầy tớ Ngài lên ngôi kế vị Đa-vít, thân phụ con, mặc dù con chỉ là một đứa trẻ chẳng biết phải điều hành việc nước như thế nào.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

7Bây giờ, lạy CHÚA, Ðức Chúa Trời của con, Ngài đã cho tôi tớ Ngài được làm vua kế vị cho Ða-vít cha con, nhưng con chỉ là một đứa trẻ; con không biết phải điều khiển việc nước như thế nào.

Bản Dịch Mới (NVB)

7Bây giờ, ôi lạy CHÚA là Đức Chúa Trời của con, Ngài đã cho kẻ tôi tớ Ngài được làm vua thay thế cho Đa-vít, cha con, nhưng con chỉ là một đứa trẻ, không biết phải điều khiển việc nước như thể nào.

Bản Phổ Thông (BPT)

7Lạy CHÚA là Thượng Đế của con, bây giờ Ngài đã lập con, kẻ tôi tớ Ngài, làm vua thế cho cha của con. Nhưng con chỉ là một đứa con nít, không biết phải hành động ra sao.

Klei Aê Diê Blŭ (RRB)

8Leh anăn dĭng buăl ih dôk ti krah phung ƀuôn sang ih ruah leh, sa phung ƀuôn sang êngŭm, amâo dưi yap ôh kyua lu đei.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

8Kẻ tôi tớ Chúa ở giữa dân của Chúa chọn, là một dân đông vô số, không thể đếm được.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

8Đầy tớ Chúa ở giữa dân mà Chúa đã chọn, một dân đông vô số không thể đếm nổi.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

8Tôi tớ Ngài lại ở giữa tuyển dân của Ngài, thật là một dân lớn và rất đông, không thể đếm hết được.

Bản Dịch Mới (NVB)

8Tôi tớ Ngài lại ở giữa tuyển dân của Ngài, là một dân lớn và thật đông đúc, không thể đếm hết được.

Bản Phổ Thông (BPT)

8Con, kẻ tôi tớ CHÚA ở giữa dân chúng được chọn lựa của Ngài, là một dân đông vô số.

Klei Aê Diê Blŭ (RRB)

9Snăn brei bĕ kơ dĭng buăl ih ai tiê thâo mĭn čiăng phat mkra kđi phung ƀuôn sang ih, čiăng kơ kâo dưi thâo ksiêm klei jăk hŏng klei jhat; kyuadah hlei pô dưi phat mkra kđi phung ƀuôn sang ih êngŭm anei?”

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

9Vậy, xin ban cho kẻ tôi tớ Chúa tấm lòng khôn sáng, để đoán xét dân sự Ngài và phân biệt điều lành điều dữ; vì ai có thể đoán xét dân rất lớn nầy của Chúa?

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

9Vậy, xin Chúa ban cho đầy tớ Ngài tấm lòng khôn sáng để xét xử dân Ngài và phân biệt đúng sai; vì ai có thể xét xử đoàn dân đông đảo nầy của Chúa?”

Bản Dịch 2011 (BD2011)

9Vậy xin Ngài ban cho tôi tớ Ngài một tâm trí thông minh khôn sáng, một khả năng phân biệt chính tà để trị vì dân Ngài, vì ai có thể trị vì một dân lớn như thế nầy của Ngài?”

Bản Dịch Mới (NVB)

9Vậy xin Ngài ban cho kẻ tôi tớ Ngài một tâm trí khôn sáng, một khả năng phân biệt chính tà để trị vì dân Ngài, vì ai là người có thể trị vì một dân lớn của Ngài như thế nầy được?”

Bản Phổ Thông (BPT)

9Con cầu xin Ngài ban cho con một tấm lòng vâng phục để con có thể cai trị dân Ngài theo đường lối ngay thẳng và biết phân biệt phải trái. Nếu không làm sao con có thể cai trị đám dân đông đảo nầy của CHÚA?”

Klei Aê Diê Blŭ (RRB)

10Klei Y-Salômôn akâo leh anei bi mơak kơ Yêhôwa.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

10Lời của Sa-lô-môn đẹp lòng Chúa, vì người đã cầu xin sự đó.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

10Chúa hài lòng vì Sa-lô-môn đã xin điều nầy.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

10CHÚA rất hài lòng vì Sa-lô-môn đã xin điều ấy.

Bản Dịch Mới (NVB)

10Chúa rất hài lòng vì Sa-lô-môn đã xin điều ấy.

Bản Phổ Thông (BPT)

10Lời yêu cầu của Sô-lô-môn làm hài lòng CHÚA.

Klei Aê Diê Blŭ (RRB)

11Leh anăn Aê Diê lač kơ ñu, “Kyuadah ih akâo leh klei anei, leh anăn amâo akâo ôh kơ ih pô klei hdĭp sui amâodah klei mdrŏng, amâodah klei dưi bi mdjiê phung roh ih, ƀiădah akâo leh kơ ih pô klei thâo săng čiăng ksiêm ya jing djŏ,

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

11Đức Chúa Trời phán với người rằng: Bởi vì ngươi đã cầu xin điều nầy, mà không xin sự sống lâu, không xin sự giàu có, cũng không xin mạng của những kẻ thù nghịch ngươi, nhưng xin sự thông minh để biết xét đoán,

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

11Đức Chúa Trời phán với vua: “Vì con đã xin điều nầy mà không xin cho con được sống lâu hay giàu có, cũng không xin mạng sống của những kẻ thù con, nhưng xin sự khôn sáng để xét xử thích đáng,

Bản Dịch 2011 (BD2011)

11Vậy Ðức Chúa Trời phán với ông, “Bởi vì ngươi xin điều nầy, mà không xin cho ngươi được sống lâu hay giàu có, ngươi cũng không xin cho những kẻ thù của ngươi bị tiêu diệt, nhưng lại xin sự thông minh khôn sáng để thi hành công lý,

Bản Dịch Mới (NVB)

11Vậy Đức Chúa Trời phán với vua: “Bởi vì ngươi có xin điều nầy mà không xin cho ngươi được sống lâu hay giàu có, ngươi cũng không xin cho những kẻ thù của ngươi bị tiêu diệt, nhưng lại xin sự khôn sáng để thi hành công lý.

Bản Phổ Thông (BPT)

11Nên Thượng Đế bảo ông, “Ngươi không xin sống lâu, giàu có, hay mạng sống các kẻ thù ngươi. Vì ngươi xin cho được khôn ngoan để biết quyết định cho đúng,

Klei Aê Diê Blŭ (RRB)

12nĕ ară anei kâo ngă tui si klei ih blŭ. Nĕ anei, kâo brei kơ ih ai tiê thâo mĭn leh anăn thâo ksiêm, tơl amâo mâo sa čô ôh msĕ si ih êlâo kơ ih, leh anăn amâo srăng mâo ôh sa čô msĕ si ih êdei kơ ih.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

12nầy, ta đã làm theo lời cầu xin của ngươi, ban cho ngươi tấm lòng khôn ngoan thông sáng, đến đỗi trước ngươi chẳng có ai bằng, và sau ngươi cũng sẽ chẳng có ai ngang.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

12nên Ta làm theo điều con xin. Ta ban cho con tấm lòng khôn ngoan thông sáng, đến nỗi trước con không ai bằng và sau con cũng sẽ không ai sánh kịp.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

12nầy, Ta sẽ ban cho ngươi điều ngươi cầu xin. Nầy, Ta sẽ ban cho ngươi tâm trí khôn ngoan và thông sáng, đến nỗi trước ngươi chưa có ai bằng, và sau ngươi sẽ không ai sánh kịp.

Bản Dịch Mới (NVB)

12Nầy, Ta sẽ ban cho ngươi điều ngươi cầu xin. Nầy, Ta sẽ ban cho ngươi tâm trí khôn ngoan thông sáng, đến nỗi trước ngươi chưa có ai bằng và sau ngươi sẽ không ai sánh kịp.

Bản Phổ Thông (BPT)

12nên ta sẽ ban cho ngươi điều ngươi xin. Ta sẽ cho ngươi sự khôn ngoan và hiểu biết hơn cả những người sống trước kia hay về sau nầy.

Klei Aê Diê Blŭ (RRB)

13Kâo brei msĕ mơh kơ ih ya klei ih amâo tuôm akâo ôh, klei mdrŏng leh anăn klei arăng mpŭ, tơl amâo mâo sa čô mtao mkăn ôh srăng mđơr hŏng ih jih ênuk ih.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

13Vả lại, ta cũng đã ban cho ngươi những điều ngươi không xin, tức là sự giàu có và sự vinh hiển, đến đỗi trọn đời ngươi, trong vòng các vua, sẽ chẳng có ai giống như ngươi.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

13Hơn nữa, Ta cũng ban cho con những điều con không xin, tức là sự giàu có và danh vọng, đến nỗi trọn đời con, không ai trong các vua được như con.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

13Ngoài ra, Ta sẽ ban cho ngươi những điều ngươi không cầu xin. Ngươi sẽ được cả giàu có lẫn tôn trọng, đến nỗi trọn đời ngươi không một vua nào có thể sánh với ngươi.

Bản Dịch Mới (NVB)

13Hơn nữa, Ta sẽ ban cho ngươi những điều ngươi không cầu xin. Ngươi sẽ được cả giàu có lẫn tôn trọng, đến nỗi trọn đời ngươi, không một vua nào có thể sánh bằng ngươi.

Bản Phổ Thông (BPT)

13Ta cũng sẽ ban cho ngươi điều ngươi không xin: là sự giàu có và vinh dự. Trong đời ngươi sẽ không có vua nào cao sang bằng ngươi cả.

Klei Aê Diê Blŭ (RRB)

14Leh anăn tơdah ih êbat hlăm êlan kâo, djă pioh klei bhiăn kâo leh anăn klei kâo mtă msĕ si ama ih Y-Đawit êbat leh, snăn kâo srăng lŏ bi kdung hruê ih.”

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

14Lại nếu ngươi đi trong đường lối ta, gìn giữ luật pháp và điều răn ta, như Đa-vít, cha ngươi, đã đi, thì ta sẽ khiến cho ngươi được sống lâu ngày thêm.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

14Nếu con bước đi trong đường lối Ta, tuân giữ các điều răn và mệnh lệnh của Ta, như cha của con là Đa-vít đã bước đi, thì Ta sẽ cho con được sống lâu.”

Bản Dịch 2011 (BD2011)

14Nếu ngươi cứ bước đi trong đường lối Ta, vâng theo các luật lệ và các điều răn Ta, như Ða-vít cha ngươi đã làm, Ta sẽ cho ngươi được trường thọ.”

Bản Dịch Mới (NVB)

14Nếu ngươi cứ bước đi trong đường lối Ta, vâng theo các luật lệ và điều răn Ta, như Đa-vít cha ngươi đã làm, thì Ta sẽ cho ngươi được trường thọ.”

Bản Phổ Thông (BPT)

14Nếu ngươi vâng lời ta, luật lệ và mệnh lệnh ta như Đa-vít, cha ngươi, đã làm thì ta cũng sẽ ban cho ngươi sống lâu.”

Klei Aê Diê Blŭ (RRB)

15Y-Salômôn mdih pĭt, leh anăn nĕ anei klei anăn jing klei êpei. Leh anăn ñu nao kơ ƀuôn Yêrusalem leh anăn dôk dơ̆ng ti anăp hip klei bi mguôp Yêhôwa, leh anăn myơr mnơ̆ng myơr čuh leh anăn mnơ̆ng myơr kơ klei êđăp ênang, leh anăn ngă sa klei huă mnăm kơ jih jang phung dĭng buăl ñu.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

15Bấy giờ, Sa-lô-môn thức dậy, thấy là một điềm chiêm bao. Người trở về Giê-ru-sa-lem, đứng trước mặt hòm giao ước của Đức Giê-hô-va, dâng của lễ thiêu cùng của lễ thù ân, và đãi tiệc cho hết thảy tôi tớ mình.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

15Sa-lô-môn thức dậy, thấy đó là một giấc chiêm bao. Rồi vua trở về Giê-ru-sa-lem, đứng trước Hòm Giao Ước của Đức Giê-hô-va, dâng tế lễ thiêu và tế lễ bình an. Sau đó, vua mở tiệc khoản đãi tất cả quần thần của mình.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

15Bấy giờ Sa-lô-môn thức giấc và nhận biết rằng đó là một giấc chiêm bao. Ông trở về Giê-ru-sa-lem, đứng chầu trước Rương Giao Ước của CHÚA, và dâng lên Ngài các của lễ thiêu và các của lễ tạ ơn. Sau đó, ông mở một yến tiệc thết đãi tất cả quần thần của ông.

Bản Dịch Mới (NVB)

15Rồi Sa-lô-môn thức giấc, và nhận biết rằng ấy là một giấc chiêm bao. Vua trở về Giê-ru-sa-lem, đứng trước Rương Giao Ước của Chúa và dâng cho Ngài những của lễ thiêu và của lễ tạ ơn. Rồi vua mở một yến tiệc thiết đãi tất cả quần thần của mình.

Bản Phổ Thông (BPT)

15Sau khi Sô-lô-môn thức giấc thì đi đến Giê-ru-sa-lem. Ông đứng trước Rương Giao Ước của CHÚA, dâng của lễ thiêu và của lễ thân hữu. Sau đó ông mở tiệc thết đãi quần thần.

Klei Aê Diê Blŭ (RRB)

16Hlăk anăn mâo dua čô mniê knhông nao kơ mtao leh anăn dôk dơ̆ng ti anăp ñu.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

16Bấy giờ, có hai con bợm đến cùng vua, đứng trước mặt vua.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

16Bấy giờ, có hai gái mại dâm đến đứng chầu trước mặt vua.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

16Bấy giờ, người ta đem hai cô gái điếm đến đứng trước mặt vua.

Bản Dịch Mới (NVB)

16Bấy giờ có hai người gái điếm đến đứng trước mặt vua.

Bản Phổ Thông (BPT)

16Một ngày kia có hai cô gái điếm đến gặp Sô-lô-môn. Đứng trước vua,

Klei Aê Diê Blŭ (RRB)

17Sa čô mniê lač, “Ơ khua kâo, mniê anei leh anăn kâo dôk hlăm sa boh sang; leh anăn kâo kkiêng kơ sa čô anak êjai ñu dôk hlăm sang.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

17Một đứa nói: Chúa tôi ôi! Người đàn bà nầy và tôi ở chung nhau một nhà, và tôi đẻ bên người trong nhà đó.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

17Một người nói: “Tâu bệ hạ, tôi và người đàn bà nầy ở chung một nhà. Tôi sinh được một đứa con trai trong lúc chị ấy đang ở nhà với tôi.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

17Một người nói, “Tâu chúa thượng, người đàn bà nầy và tôi sống chung một nhà. Tôi sinh được một con trai trong lúc chị ấy đang ở nhà với tôi.

Bản Dịch Mới (NVB)

17Một người nói: “Tâu chúa thượng, người đàn bà nầy và tôi sống chung với nhau một nhà. Tôi sinh được một con trai, trong lúc chị ấy đang ở nhà với tôi.

Bản Phổ Thông (BPT)

17một trong hai cô tâu, “Thưa chúa, chị nầy và tôi ở chung nhà. Trong khi đang ở chung thì tôi sinh con.

Klei Aê Diê Blŭ (RRB)

18Tlâo hruê êdei kơ kâo kkiêng, mniê anei kkiêng msĕ mơh; leh anăn hmei dôk hjăn hmei, amâo mâo sa čô mkăn ôh mbĭt hŏng hmei hlăm sang, knŏng hjăn hmei dua yơh.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

18Sau ba ngày, người nầy cũng đẻ; chúng tôi ở chung nhau, chẳng một người lạ nào ở với chúng tôi trong nhà; chỉ có hai chúng tôi ở đó mà thôi.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

18Ngày thứ ba sau khi tôi sinh con thì người đàn bà nầy cũng sinh con. Chúng tôi ở chung với nhau, không có một người lạ nào ở với chúng tôi trong nhà, mà chỉ có hai chúng tôi thôi.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

18Ngày thứ ba, sau khi tôi sinh con, chị ấy cũng sinh một con trai. Chỉ có hai chúng tôi ở trong nhà, không có người nào khác.

Bản Dịch Mới (NVB)

18Ngày thứ ba, sau khi tôi sinh con, chị ấy cũng sinh một con trai. Chỉ có hai chúng tôi ở trong nhà, không có một người xa lạ nào khác.

Bản Phổ Thông (BPT)

18Ba ngày sau chị nầy cũng sinh con. Không có ai khác ở chung với chúng tôi, chỉ có hai đứa chúng tôi thôi.

Klei Aê Diê Blŭ (RRB)

19Leh anăn anak mniê anei djiê hĕ êjai mlam kyuadah ñu ktư̆ hĕ gơ̆.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

19Lúc ban đêm, con trai của người nầy chết, bởi vì người đã nằm đè trên nó.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

19Đêm nọ, con trai của người đàn bà nầy chết, vì chị ấy đã nằm đè lên nó.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

19Ðang đêm, con trai của chị ấy chết, vì chị ngủ say và đè trên đứa bé.

Bản Dịch Mới (NVB)

19Đang đêm, con trai của chị ấy chết, bởi vì chị ngủ đè trên nó.

Bản Phổ Thông (BPT)

19Một đêm chị nầy lăn đè chết con.

Klei Aê Diê Blŭ (RRB)

20Leh anăn ñu kgŭ êjai krah mlam leh anăn mă hĕ anak êkei kâo mơ̆ng kâo êjai dĭng buăl mniê ih dôk pĭt, leh anăn mđih gơ̆ hlăm đah da ñu, leh anăn mđih anak êkei ñu djiê ti đah da kâo.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

20Đêm khuya người chỗi dậy, và trong khi con đòi vua ngủ, thì người lấy con trai tôi khỏi bên tôi, mà để nó nằm trong lòng mình; rồi đặt con trai chết của nó nằm trong lòng tôi.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

20Giữa đêm khuya, trong khi tớ gái bệ hạ đang ngủ thì chị ấy thức dậy, bế đi con trai tôi đang ở bên cạnh tôi và đặt nằm trong lòng mình, rồi chị đặt đứa con trai đã chết của mình nằm trong lòng tôi.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

20Thế rồi nửa đêm chị ấy thức dậy, đang lúc tôi ngủ say, chị đến bế con trai của tôi đang ở bên cạnh tôi và đem nó đặt vào lòng chị; sau đó chị đem đứa con đã chết của chị để vào lòng tôi.

Bản Dịch Mới (NVB)

20Cho nên nửa đêm chị ấy thức dậy, đang lúc tôi ngủ mê, chị đến bế con trai tôi đang ở bên cạnh tôi đi. Chị đem cháu đặt vào lòng chị, rồi chị đem đứa con đã chết của chị để vào lòng tôi.

Bản Phổ Thông (BPT)

20Đang đêm trong khi tôi ngủ thì chị liền mang con tôi từ giường tôi sang giường chị. Rồi chị đặt đứa con chết vào giường tôi.

Klei Aê Diê Blŭ (RRB)

21Tơdah kâo kgŭ aguah čiăng bi mam anak kâo, nĕ anei ñu djiê leh; ƀiădah tơdah kâo dlăng kơ gơ̆ bi nik ti aguah, nĕ anei gơ̆ amâo jing anak êkei kâo pô kkiêng ôh.”

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

21Sáng sớm, tôi thức dậy đặng cho con trai tôi bú, thì thấy nó đã chết; nhưng sáng rõ, tôi nhìn nó kỹ càng, thấy chẳng phải là con trai tôi đã đẻ.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

21Đến sáng, khi tôi thức dậy cho con bú thì thấy nó đã chết! Nhưng khi trời sáng, tôi nhìn kỹ thì thấy nó chẳng phải là đứa con mà tôi đã sinh.”

Bản Dịch 2011 (BD2011)

21Sáng hôm sau, tôi dậy cho con tôi bú, thì kìa, nó đã chết rồi. Nhưng khi trời sáng, tôi nhìn kỹ, tôi biết rằng đó không phải là đứa con tôi đã sinh ra.”

Bản Dịch Mới (NVB)

21Sáng hôm sau, tôi dậy cho con bú, thì kìa, nó đã chết rồi. Nhưng đến khi trời sáng, tôi nhìn kỹ, thì biết rằng đó không phải là đứa con tôi đã sinh ra.”

Bản Phổ Thông (BPT)

21Sáng hôm sau khi tôi thức dậy để cho con tôi bú thì thấy nó chết rồi! Khi tôi nhìn kỹ lại thì thấy không phải con tôi.”

Klei Aê Diê Blŭ (RRB)

22Ƀiădah mniê mkăn lač, “Hơăi, anak hdĭp jing kâo dê, leh anăn anak djiê jing ih dê.” Pô tal êlâo lač, “Hơăi, anak djiê jing ih dê, leh anăn anak hdĭp jing kâo dê.” Msĕ snăn yơh diñu blŭ ti anăp mtao.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

22Người đàn bà kia trả lời rằng: Không phải vậy; vì đứa sống là con trai tao, đứa chết là con trai mầy. Song đàn bà nầy nói: Không phải vậy đâu; đứa chết là con trai mầy, còn đứa sống là con trai tao. Hai người cãi nhau như vậy trước mặt vua.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

22Người đàn bà kia trả lời: “Không! Đứa sống là con của tôi, còn đứa chết là con của chị.” Nhưng người nầy lại nói: “Không! Đứa chết là con của chị, còn đứa sống là con của tôi.”Họ cãi nhau như vậy trước mặt vua.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

22Người đàn bà kia nói, “Không! Ðứa sống là con tôi, đứa chết là con chị.”Nhưng người nọ cứ khẳng định, “Không! Ðứa chết là con chị, đứa sống là con tôi.” Vậy họ cãi nhau trước mặt vua.

Bản Dịch Mới (NVB)

22Người đàn bà kia nói: “Không! Đứa sống là con tôi, đứa chết là con chị.” Nhưng người nọ nhất định: “Không! Đứa chết là con chị, đứa sống là con tôi.” Vậy họ cãi nhau trước mặt vua.

Bản Phổ Thông (BPT)

22Chị kia kêu lên, “Không! Đứa sống là con tao, đứa chết là con mầy!”Nhưng chị thứ nhất cãi, “Không! Đứa chết là con mầy, đứa sống là con tao!” Hai bên cãi nhau trước mặt vua.

Klei Aê Diê Blŭ (RRB)

23Leh anăn mtao lač, “Sa čô lač, ‘Anei anak kâo ăt dôk hdĭp, leh anăn anak ih djiê leh;’ leh anăn pô mkăn lač, ‘Hơăi, ƀiădah anak ih djiê leh, leh anăn anak kâo ăt dôk hdĭp.’ ”

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

23Vua bèn phán rằng: Người nầy nói: Đứa còn sống là con trai tao, và đứa chết là con trai mầy. Người kia nói: Không phải vậy đâu; song con trai mầy ấy là đứa chết, và con trai tao ấy là đứa sống.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

23Bấy giờ vua phán: “Người nầy nói: ‘Đứa sống là con của tôi, còn đứa chết là con của chị.’ Người kia nói: ‘Không! Đứa chết là con của chị, còn đứa sống là con của tôi.’”

Bản Dịch 2011 (BD2011)

23Vua phán, “Người nầy nói, ‘Con tôi là đứa sống, còn con chị là đứa chết,’ trong khi người kia nói, ‘Không! Con chị là đứa chết, còn con tôi là đứa sống.’”

Bản Dịch Mới (NVB)

23Vua phán: “Người nầy nói: ‘Con tôi là đứa sống còn con chị là đứa chết,’ trong khi người kia nói: ‘Không! Con chị là đứa chết còn con tôi là đứa sống.’ ”

Bản Phổ Thông (BPT)

23Sô-lô-môn liền bảo, “Người thì nói, ‘Đứa sống là con tao, đứa chết là con mầy.’ Người kia nói, ‘Không! Đứa chết là con mầy, đứa sống là con tao.’”

Klei Aê Diê Blŭ (RRB)

24Mtao lač, “Ba kơ kâo sa ƀĕ đao gưm.” Snăn arăng ba sa ƀĕ đao gưm kơ mtao.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

24Vua bèn tiếp rằng: Vậy, hãy đem cho ta một cây gươm. Người ta đem cho vua một cây gươm.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

24Rồi vua truyền: “Hãy đem cho ta một thanh gươm.” Người ta đem đến cho vua một thanh gươm.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

24Bấy giờ vua truyền, “Hãy đem cho ta một thanh gươm.” Vậy họ mang đến vua một thanh gươm.

Bản Dịch Mới (NVB)

24Rồi vua truyền: “Hãy đem cho ta một thanh gươm.” Vậy họ mang đến cho vua một thanh gươm.

Bản Phổ Thông (BPT)

24Vua bảo đầy tớ mang đến một cây gươm. Khi họ mang gươm đến,

Klei Aê Diê Blŭ (RRB)

25Mtao lač, “Blah bi mbha anak ăt dôk hdĭp hlăm dua, leh anăn brei sa mkrah kơ pô anei leh anăn sa mkrah kơ pô mkăn.”

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

25Vua lại phán: Hãy chia đứa trẻ sống làm hai; phân nửa cho người nầy và phân nửa cho người kia.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

25Vua ra lệnh: “Hãy chặt đứa bé còn sống ra làm hai, rồi cho người nầy một nửa và cho người kia một nửa.”

Bản Dịch 2011 (BD2011)

25Vua ra lịnh, “Hãy chặt đứa bé còn sống đó ra làm hai, cho người nầy một nửa và người kia một nửa.”

Bản Dịch Mới (NVB)

25Đoạn vua truyền lịnh: “Hãy chặt đứa bé còn sống đó ra làm hai, rồi cho người nầy một nửa và cho người kia một nửa.”

Bản Phổ Thông (BPT)

25vua bảo, “Chặt đứa con sống ra làm đôi, cho mỗi người một nửa.”

Klei Aê Diê Blŭ (RRB)

26Hlăk anăn mniê pô mâo anak hdĭp lač kơ mtao kyuadah ai tiê ñu hơiêng kơ anak êkei ñu, “Ơ khua kâo, brei hĕ kơ ñu anak ăt dôk hdĭp anăn, leh anăn hơăi, đăm bi mdjiê gơ̆ ôh.” Ƀiădah mniê mkăn lač, “Gơ̆ amâo srăng jing anak kâo, kăn jing anak ih rei; blah bi mbha bĕ gơ̆.”

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

26Nhưng mẹ của đứa trẻ sống, --- vì gan ruột cảm động thương yêu con mình, --- bèn tâu với vua rằng: Ôi, chúa tôi! Xin hãy cho người kia con trẻ sống, chớ giết nó. Nhưng người kia nói rằng: Nó sẽ chẳng thuộc về tao, cũng chẳng thuộc về mầy; hãy chia nó đi.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

26Người đàn bà có đứa con còn sống rất xúc động vì thương con mình liền tâu với vua: “Ôi, chúa tôi! Hãy cho chị ấy đứa trẻ còn sống, xin đừng giết nó!” Nhưng người kia nói: “Nó sẽ chẳng thuộc về tôi, cũng chẳng thuộc về chị, cứ chia đôi nó đi!”

Bản Dịch 2011 (BD2011)

26Người đàn bà mẹ của đứa con còn sống rất xúc động vì thương con, bà tâu với vua, “Tâu chúa thượng, xin đừng. Xin cho chị ấy đứa bé. Xin đừng giết nó!”Nhưng người kia nói, “Nó sẽ không là con của chị và cũng không là con của tôi. Cứ chặt nó ra làm hai.”

Bản Dịch Mới (NVB)

26Người đàn bà có đứa con còn sống rất xúc động vì thương con, liền tâu với vua: “Xin đừng, tâu chúa thượng. Hãy cho chị ấy đứa bé đi. Xin đừng giết nó!” Nhưng người kia nói: “Nó sẽ không là con của chị và cũng không là con của tôi. Cứ chặt nó ra làm hai đi.”

Bản Phổ Thông (BPT)

26Người mẹ thật của đứa con sống đầy lòng thương con cho nên thưa với vua, “Thưa chúa, xin đừng giết nó! Giao nó cho chị kia đi!” Nhưng chị nọ bảo, “Nó không thuộc về tao hay mầy. Chặt nó ra làm hai đi!”

Klei Aê Diê Blŭ (RRB)

27Snăn mtao lŏ wĭt lač, “Brei kơ pô êlâo anăn anak ăt dôk hdĭp anei, leh anăn hơăi, đăm bi mdjiê gơ̆ ôh; ñu yơh jing amĭ gơ̆.”

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

27Bấy giờ, vua cất tiếng phán rằng: Hãy cho người nầy đứa trẻ sống, chớ giết nó; ấy là mẹ nó.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

27Bấy giờ, vua phán quyết: “Hãy trao đứa bé còn sống cho người đàn bà nói trước, và đừng giết nó vì bà ấy chính là mẹ nó.”

Bản Dịch 2011 (BD2011)

27Bấy giờ vua phán quyết, “Hãy trao đứa bé còn sống cho người thứ nhất. Ðừng giết nó. Người ấy chính là mẹ nó.”

Bản Dịch Mới (NVB)

27Bấy giờ vua phán quyết: “Hãy trao đứa bé còn sống cho người thứ nhất. Đừng giết nó. Người ấy chính là mẹ nó.”

Bản Phổ Thông (BPT)

27Vua Sô-lô-môn liền nói, “Đừng giết nó. Trả nó cho chị đầu tiên, vì chị đó mới là mẹ thật của nó.”

Klei Aê Diê Blŭ (RRB)

28Jih jang phung Israel hmư̆ klei mtao phat kđi anăn, leh anăn diñu mâo klei mpŭ kơ mtao, kyuadah diñu ƀuh klei thâo mĭn Aê Diê dôk hlăm ñu, čiăng ngă klei kpă.

Bản Truyền Thống 1926 (VI1934)

28Cả Y-sơ-ra-ên đều nghe sự đoán xét mà vua đã làm, thì bắt kính sợ vua, vì thấy trong lòng người có sự khôn ngoan của Đức Chúa Trời đặng xử đoán công bình.

Bản Hiệu Đính Truyền Thống (RVV11)

28Toàn dân Y-sơ-ra-ên nghe việc phân xử và phán quyết của vua đều rất kính phục vua, vì họ thấy rằng Đức Chúa Trời đã ban cho vua sự khôn ngoan để thực thi công lý.

Bản Dịch 2011 (BD2011)

28Khi cả I-sơ-ra-ên đã nghe về phán quyết của vua, họ kính phục vua, vì họ nhận thấy vua có sự khôn ngoan của Ðức Chúa Trời để thi hành công lý.

Bản Dịch Mới (NVB)

28Khi cả Y-sơ-ra-ên đã nghe phán quyết của vua, họ lấy làm kính phục vua, vì họ thấy rằng vua có sự khôn ngoan của Đức Chúa Trời để thi hành công lý.

Bản Phổ Thông (BPT)

28Khi dân Ít-ra-en nghe sự phân xử của vua Sô-lô-môn, thì họ hết sức kính nể. Dân chúng nhận thấy vua có sự khôn ngoan của Thượng Đế để đưa ra những quyết định đúng đắn.